Các bạn hãy thực hiện 2 bước sau để được tặng bộ Mini Flashcard về các loài vật của CEP:
1. Chia sẻ bài viết này lên Facebook ở chế độ công khai.
2. Liên lạc với CEP qua Fanpage để được nhận quà.
Bài viết liên quan:

Chức năng ngôn ngữ mà tôi muốn bàn luận trong bài viết này xung quanh việc sử dụng tiếng Anh trong các hoạt động sống hàng ngày. Nhưng với tiếng Việt, bạn sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ theo một cách tự nhiên nhất, có lẽ chẳng cần qua một khóa đào tạo để sử dụng tiếng Việt cho đúng cách, bạn mặc nhiên biết sử dụng nó như thế nào bằng cách quan sát và bắt chước từ những người khác và áp dụng vào những tình huống tương tự. Ví dụ: một đứa trẻ 7 tuổi biết tới 5-7 câu nói khác nhau để đòi hỏi ba mẹ bạn mua một que kẹo khi đi ngang qua một cữa hàng tạp hóa, như: "ba ơi ! mua kẹo cho con đi" ; "mua kẹo cho con đi ba" ;  "lâu rồi con chưa ăn kẹo, mẹ mua cho con một que kẹo nha!", "ước gì con được ăn nhiều kẹo trong ngày sinh nhật ... hihi" ; ..... hoặc đơn giản hơn đứa bé chỉ cần nói: "kẹo, kẹo, kẹo .... " (sau đó giãy dụa đòi mua cho bằng được). Nói như vậy để bạn thấy cùng một mục đích là mua một que kẹo mà một đứa bé có thể thể hiện ở rất nhiều cách khác nhau và mỗi cách sử dụng một cách biểu cảm và tương tác khác nhau tới người nghe. 

Quay lại với chức năng tiếng Anh và chức năng ngôn ngữ nói chung, bạn có bao giờ đặc câu hỏi "tại sao chúng ta lại sử dụng ngôn ngữ?". Chúng ta sử dụng ngôn ngữ mỗi ngày, và sử dụng nhiều tới mức không thể nhận ra được mức độ phức tạp và đa dạng trong từng câu chữ trong những câu nói. Để xác định phạm vi chức năng ngôn ngữ để xây dựng thành từng chủ điểm và biến thành các bài học quả là một công việc khó khăn. Có lẽ phải mất thêm nhiều năm nghiên cứu nữa tôi mới có thể có một giáo trình hoàn chỉnh về chức năng ngôn ngữ trong tiếng Anh để áp dụng trong việc dạy tiếng Anh cho người Việt. Ngôn ngữ phát triển và có thêm nhiều cập nhập theo thời gian, do vậy tôi luôn có việc gì đó để làm và tổng hợp mỗi năm :) 

Nói rõ hơn một chút để bạn có thể hình dung về chức năng của ngôn ngữ, đại loại là: các cách khác nhau trong việc sử dụng ngôn ngữ để hiểu thị cho một ý tưởng nào đó chính là chức năng của ngôn ngữ mà bạn cần học để biết cách áp dụng nó khi có tình huống tương tự xảy ra. Lấy một ví dụ về các cách khác nhau để thể hiện sự ngập ngừng (hesitation) trong giao tiếp, bạn có thể thể hiện thông qua một số cách sau:  um (có thể đọc kéo dài thành uu--um), uh  (có thể đọc kéo dài thành uu--uh), well  (có thể đọc kéo dài thành we-ell hay là we-ll-ll), let's see now..., In fact...,  you see..., you know..., the thing is..., how can I put it ..., It's like this ..., you see..., soft of...

Có 2 phương diện mà tôi đang theo đuổi trong nghiên cứu về chức năng ngôn ngữ (tiếng Anh), đó là: biểu lộ cảm xúctương tác xã hội. Tôi sẽ cố gắng tìm ra một ví dụ dễ hiểu nhất để bạn dễ theo dõi 2 đặc tính này. 

- Biểu lộ cảm xúc: Một người say rượu đi loạng choạng và té ngã, anh ta cố gắng vịn vào một thân cây để đứng dậy nhiều lần nhưng không được. Anh ta nổi giận và quát vào cái cây đó. Ngôn ngữ mà người đàn ông này sử dụng không phải là cách một người nói chuyện với một người thông qua ngôn ngữ, mà nó chỉ đơn giản là cách thể hiện cảm xúc tức giận. Tương tự, bạn có thể sẽ thể hiện sự ngạc nhiên, tức giận, ngưỡng mộ, kinh ngạc ví dụ như: "Gosh", "My", "Wow", "Ouch" ....

- Tương tác xã hội: Bà T bị hắt hơi và bà G đứng gần đó sẽ nói "Bless you", và bà T sẽ nói "Thank you". Rất khó để chúng ta xây dựng một quy cách như thế nào trong cách sử dụng ngôn ngữ những lúc như vậy. Trường hợp của Bà T và bà G chỉ là cách biểu lộ ngôn ngữ để có được cảm giác thoải mái hơn. Những câu nói như "Good morning" hay "please to meet you" hoặc những câu nói về thời tiết như "nice day, isn't it?" là cách cách tự nhiên khác nhau để có cảm giác thân thiện trong những lần gặp mặt. 

Hy vọng 2 ví dụ của tôi ở trên có thể giúp bạn hình dung rõ hơn về định nghĩa chức năng ngôn ngữ mà tôi nêu ra trong bài viết này. Nếu bạn có một ví khác hay hơn, hãy viết nó ở phần bình luận ở cuối bài viết nhé!

Nhân đây tôi sẽ giới thiệu một bài viết khác gần đây để làm nổi bật hơn vai trò của việc đưa chủ đề "Chức năng ngôn ngữ" làm một phần quan trọng trong giảng dạy tiếng Anh ở Việt Nam để nâng tầm khả năng sử dụng tiếng Anh của người Việt. Mời bạn theo dõi bài viết này được trích dẫn lại từ nguồn: www.vobmapping.vn 

Tác giả: Ce Phan

 

GIỎI TỪ VỰNG, NGỮ PHÁP- BẠN HỌC GÌ NỮA ĐỂ GIỎI TIẾNG ANH?

Trình độ sử dụng tiếng Anh ở Việt Nam đang tiến bộ nhanh chóng trong những năm gần đây và xếp trên cả Nhật Bản, Đài Loan, Indonesia theo đánh giá xếp hạng gần nhất của tổ chức giáo dục tiếng Anh toàn cầu EF về các nước không sử dụng tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ. Tuy nhiên, Việt Nam hiện tại vẫn nằm trong nhóm các quốc gia sử dụng tiếng Anh ở mức trung bình trong 5 cấp độ đánh giá từ: trình độ rất thấp tới rất thông thạo. Điều này cho thấy những thay đổi gần đây trong các chương trình giảng dạy tiếng Anh tại Việt Nam đã mang lại những kết quả khả quan ban đầu và mở ra một chủ đề mới trong phương pháp đào tạo sao cho trình sử dụng tiếng Anh của người Việt vươn lên nhóm những nước sử dụng tiếng Anh ở mức tương đối thành thạo như các nước khác ở Châu Á: Singapore, Malaysia, và Ấn Độ.

Mặc dù có nhiều nỗ lực thay đổi trong chương trình giảng dạy tiếng Anh trong các cấp học phổ thông cũng như những chương trình giảng dạy ngoại khóa tại các trung tâm Anh ngữ, người học tiếng Anh vẫn quen với chương trình học tiếng Anh đặc thù dựa vào việc học từ vựng và các quy tắc ngữ pháp . Các bài kiểm tra tiếng Anh vẫn chưa thể đánh giá đúng khả năng sử dụng tiếng Anh thực sự của người học, bởi vì lượng kiến thức học được theo cách truyền thống như trên chỉ là quá trình ‘nhập‘ kiến thức tiếng Anh. Để sử dụng được từ vựng và các quy tắc ngữ pháp vào trong các tình huống thực tế cần thêm nhiều bước thực hành sử dụng dựa trên chức năng ngôn ngữ của chúng. Hay nói cách khác, quá trình thể hiện và ‘xuất‘ những gì đã tiếp thu là một quá trình luyện tập dựa trên những bối cảnh chi tiết mà chúng ta thường gặp trong cuộc sống thường ngày.

Những kiến thức về quy tắc ngữ pháp và từ vựng như: ngữ nghĩađịnh nghĩa hoặc khái niệm là quan trọng nhưng chưa đủ, người học cần phải biết thêm về chức năng ngôn ngữ để phục vụ cho mục đích giao tiếp của mình. Sử dụng tiếng Anh là cách người dùng áp dụng tiếng Anh vào những mục đích cụ thể như: yêu cầu ai đó làm gìnhờ ai giúp đỡ việc gì đóđề nghị ai làm gìcách xin lỗicách xen ngang vào câu chuyệncách thực hiện một cuộc gọicách xin nghỉ phépcách chỉ đườngcách gọi món trong nhà hàng …

Từ vựng - Ngữ pháp - Chức năng ngôn ngữ tiếng Anh

Từ vựng – Ngữ pháp – Chức năng ngôn ngữ tiếng Anh (Ảnh minh họa bởi Ce Phan)

Chức năng ngôn ngữ trong tiếng Anh nên thực hành hơn là học chỉ để hiểu.

Với cấp độ căn bản, thực hành những tình huống như: cách hỏi-trả lời về thời gian, cách ngỏ lời chào… là điều cần thiết, sau đó người học sẽ thực hành để quen với cách nói cho từng trường hợp, tiếp theo mới học nói những cấu trúc câu phức tạp hơn. Ví dụ, bạn có thể học “would you like to ….?” bạn sẽ trả lời “Yes, I would” hoặc “No, I wouldn’t” ở các tài liệu căn bản trong giáo trình dạy chức năng ngôn ngữ, nhưng mãi đến sau này bạn mới học đến các kiến thức sâu hơn về ngữ pháp và các từ vựng liên quan.

Cách tốt nhất để thực hành từng chức năng ngôn ngữ đó là việc tưởng tượng ra những bối cảnh giao tiếp, hoặc trực tiếp thực hành với một ai đó nếu có thể. Nếu chỉ biết đến các chức năng ngôn ngữ theo danh sách các bài học là không đủ. Việc đọc hiểu các câu nói, các cụm từ không giúp ích cho bạn để ghi nhớ và áp dụng được khi có tình huống tương tự xảy ra. Những cuộc gặp mặt thực tế hoặc thực hành trong một bối cảnh cụ thể như trong văn phòng, siêu thị … sẽ là những bài học cần thiết nhất. Ý thức trong việc sử dụng các chức năng ngôn ngữ bằng cách xem người học là một phần trong từng tình huống sẽ giúp người học thực hành tốt hơn.

Đâu là tiêu chuẩn thực hành tiếng Anh đúng để so sánh?

Cách tốt nhất để đảm bảo người học vẫn đang học đúng đó là thường xuyên nghe lại một đoạn giao tiếp mẫu, sau đó tìm kiếm một bạn học khác để tái hiện lại đoạn hội thoại đó. Hoặc người học vẫn có thể tự thực hành một mình bằng cách tự đóng một lúc hai hay nhiều vai cho một đoạn hội thoại. Luôn ghi nhớ rằng, việc nghe lại đoạn hội thoại mẫu để điều chỉnh cách phát âm cũng như ngữ điệu khi nói là rất quan trọng.

Có nhiều ngôn ngữ chức năng áp dụng cho nhiều tình huống khác nhau, vì vậy giáo viên nên chọn những tình huống nào mà một người thông thường hay gặp nhất trong cuộc sống để luyện tập hơn là việc tập theo những tình huống không có thực và quá chung chung. Có nhiều nguồn tài liệu để tìm thấy những đoạn hội mẫu có cả lời thoại tiếng Anh trên mạng xã hội Youtube hoặc trong các tài liệu, sách học tiếng Anh có những bài thực hành mẫu về các chức năng ngôn ngữ khác nhau.

Từ vựng và ngữ pháp trong tiếng Anh giao tiếp khác với những gì bạn học được trên trường như thế nào?

Ngữ pháp được dạy trong các chương trình học phổ thông là những quy tắc sử dụng ngôn ngữ được hệ thống và lưu lại trong nhiều năm. Những quy tắc này hướng dẫn cách sử dụng ngôn ngữ như thế nào là đúng cách. Tuy nhiên, với sự phát triển trong cách dùng từ vựng bị chi phối bởi nhiều phương tiện truyền tải như qua: thư, email, tin nhắc điện thoại, văn bản, video, audio… và cách truyền đạt qua các môi trường khác nhau như: ở trong giảng đường, công sở, siêu thị, ngoài công cộng….. Điều này dẫn đến một số thay đổi trong các tình huống giao tiếp đó là: có nhiều quy tắc ngữ pháp rất ít dùng đến trong các tình huống giao tiếp thực tế, ngược lại có những quy tắc khác được dùng với mật độ thường xuyên hơn và có những quy tắc ngữ pháp bị phá vỡ so với những quy tắc được liệt kê trong sách dạy ngữ pháp trong chương trình học phổ thông.

Với những cách sử dụng tiếng Anh khác đi so với cách sử dụng ngữ pháp truyền thống, nếu chúng được sử dụng bởi nhiều người thì quy tắc cũ sẽ không còn phù hợp nữa và có thể bỏ qua trong chương trình học. Nó cũng giống như việc so sánh giữa một thành phố và bản đồ thành phố. Khi thành phố có những điều chỉnh thì bản đồ phải cập nhật lại và điều chỉnh theo, chứ không phải thành phố phải phù hợp với định dạng bản đồ ban đầu. Chúng ta cũng nên làm tương tự như vậy đối với ngữ pháp tiếng Anh.

Ví dụ: Sử dụng từ “though” và “although” trong tiếng Anh. Cả hai từ đều có nghĩa là “mặc dù”. Tuy nhiên, so sánh số lần sử dụng 2 từ này trong các tình huống giao tiếp thực tế “though” được sử dụng nhiều hơn gấp 6 lần so với “although”. “though” là từ vựng được sử dụng nhiều thứ 175 trong tiếng Anh của người Anh và xếp thứ 246 trong tiếng Anh của người Mỹ.

Lưu ý: nếu một từ vựng được xếp từ 1-1000 trong danh sách những từ vựng được sử dụng nhiều nhất mà chúng ta không nên bỏ qua khi học tiếng Anh.

Có 2 yếu tố để xem xét khả năng một từ vựng hay một cấu trúc có được dùng thường xuyên không: cú pháp (cấu trúc) và chức năng

Quay lại với từ “though”.

– Cú pháp: “though” có 2 nghĩa khác nhau và được sử dụng ở 2 vị trí sử dụng trong câu là: đầu câu và cuối câu. Cả 2 điều thông dụng trong các tình huống giao tiếp. Tuy nhiên, chúng ta hiếm thấy “though” nằm ở cuối câu khi sử dụng trong ngữ pháp dùng trong văn viết.

– Chức năng: “though” được sử dụng thường xuyên với vai trò liên kết hay tiếp nối một đoạn hội thoại bị ngắt quãng trước đó.

Sự khác nhau giữa từ vựng và câu trúc ngữ pháp trong chương trình học phổ thông và thực tế là mức độ khắt khe trong cách sử dụng ngôn ngữ. Khi giao tiếng tiếng Anh trong thực tế, người nói thường điều chỉnh và thay thế đa dạng các từ vựng để thay đổi ý hơn là việc thay đổi cấu trúc để mang lại một ngụ ý khác. Do đó, ngữ pháp trong văn nói ít nghiêm ngặt hơn so với văn viết. Điều này còn được thể hiện ở chỗ: trong 100 từ được sử dụng thường xuyên trong văn viết đó là: giới từ, đại từ và mạo từ, trong khi đó 100 từ được sử dụng thường xuyên trong văn nói đó là động từ.

Ví dụ: từ “know” xếp thứ 14 trong các từ thông dụng trong giao tiếp của người Anh và thứ 22 ở Mỹ. Nhưng sự khác biệt trong tần suất sử dụng từ này nằm ở chỗ: động từ “know” được dùng nhiều với dạng “know” + tân ngữ. Tuy nhiên, trong tiếng Anh giao tiếp thì người ta lại không thường xuyên dùng nó với tân ngữ, tần xuất sử dụng “you know” là nhiều hơn tất cả. Điều tương tự cũng xảy ra với những từ khác như “see” và “mean”.

Những trường hợp khác mà bạn rất hay bắt gặp một ai đó nói những câu sau: “yes-plus” (tương như “absolutely“), “His cousin in London, her boyfriend, his parents, bought him a car for his birthday.”  Hay một câu khác trong một phỏng vấn trên báo BBC “And my grandmother, I’ve never forgotten, when we were small, my sister and I, she used to take us down and we’d sing to the seals.” Hai câu nói trên sử dụng quá nhiều chủ ngữ trong một câu nói và nhiều danh từ nữa. Điều đó rất hiếm gặp trong ngữ pháp dùng trong văn viết. Một câu nói khác mà thậm chí bạn dễ dàng phát hiện ra một lỗi cơ bản trong ngữ pháp, như: “There’s four restaurants in this street.” Tuy nhiên, đây cũng là một dạng câu nói mà bạn có thể thường xuyên nghe trong các tình huống thực tế.

Tóm lại,  tiêu chuẩn để đánh giá việc sử dụng tiếng Anh thành thạo hay không trong các kỳ thi không chỉ là việc kiểm tra số lượng từ vựng học được và hiểu các quy tắc ngữ pháp, mà nó nên được xem xét dựa trên mức độ ứng dụng như gì đã học như thế nào vào các hoạt động thường ngày. Vì vậy chương trình học tiếng Anh ở các trường học cần phải thay đổi nhiều hơn nữa để tiến gần hơn với cách sử dụng tiếng Anh trong thực tế và làm cho môn học này trở nên sinh động hơn, hữu ích hơn.

Tác giả: Ce Phan

 

Tham khảo:

– Việt Nam xếp vị thứ 29 với số điểm là 53.81. Trong khi đó Nhật Bản, Đài Loan xếp thứ 30, 31 ngay sau Việt Nam với số điểm tương ứng là 53,57 và 53,18- Theo nguồn: http://www.ef.com.vn/epi/?source=007934,PR_EPI

– Xem bảng xếp hạng mức độ sử dụng thường xuyên của các từ vựng tiếng Anh- Theo nguồn: http://www.wordfrequency.info/free.asp?s=y