Tin song ngữ

  1. Tin tức song ngữ Anh-Việt
  2. Thời sự
  3. Giáo dục
  4. Ảo tưởng về người bản ngữ

Ảo tưởng về người bản ngữ

13/09/2017
Mức trung cấp

The myth of the native speaker

A few months ago, while walking inside a building, I could not help but notice an advertisement on a bulletin board.

The advertisement promotes a course that targets learners of English as a foreign language in Jordan. It reads, “Our teachers are all qualified native speakers.”

I was not shocked, as I am all too familiar with such advertisements.

The familiarity comes from years and years of hearing and reading similar statements. One is told that if students want to become better at English, they need to study in an institute whose teaching personnel are “native” speakers.

“Native” speakers are said to be the shortest route to students’ success in learning a language, especially in terms of pronunciation and speaking. If they follow that route, students are likely to develop native-like accents. When they do, they are deemed to be close to perfection.

All these statements are underpinned by what the Applied Linguistics theorists Robert Phillipson and Adrian Holliday call the native-speaker fallacy and native-speakerism respectively.

According to them, and to a host of other experts on teaching English as a foreign or second language, such beliefs are nothing but myths.

They suggest that the identity of the teacher is never indicative of the success of the teaching process for a very simple reason: being a “native speaker” of a language does not necessarily entail the ability to teach it.

Although some (a minority) are born teachers, the majority make themselves, as it were, through developing the requisite pedagogical skills and strategies over a long period of time.

I, for one, am a “native” speaker of Arabic, and I cannot claim that I can teach it to Arabs, let alone learners of Arabic as a second or foreign language. For, I do not have the training and expertise that would enable me to do the job effectively.

Another problem with that kind of logic (or rather illogic) is that it puts the onus of learning on teachers, not students.

It is a proven fact by now that regardless of the ability of the teacher, effective teaching does not necessarily lead to learning.

It is the learner’s responsibility to do the work and thus improve. Teachers can only facilitate the learning process; teachers in general and native-speaking teachers in particular are not magicians.

Even when it comes to teaching pronunciation and speaking, a “native” speaker may not be the best teacher, despite what administrators, parents, students and even some teachers have one believe.

Apart from the reductive logic of thinking of the “native” speaker as a voice (which, if true, can be replaced by a cassette or a CD), studies show that there is no correlation between the identity of the teacher and students’ oral competence.

For instance, John M. Levis and others (2016) conducted a study in which two teachers, a native speaker and non-native speaker, taught pronunciation to two groups of students.

Both adhered to the same plan, did the same exercises, graded the same way, and their students were evaluated by the same neutral graders.

The study concludes that teacher identity is irrelevant, even when teaching pronunciation.

Despite such studies, native-speakerist attitudes unfortunately continue and have disastrous consequences on both students and teachers.

Students are asked to accomplish unreasonable results.

It might be next to impossible to achieve native-like competence due to a variety of reasons, including age, psychological readiness, unwillingness, etc. 

If students are being constantly asked to develop native-like competence, they will feel frustrated and have very little confidence.

Local teachers, on the other hand, are harmed in many ways. They are discriminated against, as they tend to receive fewer jobs, lower salaries and less respect. The last of which is evidenced by the fact that their knowledge is generally questioned.

Despite their metalinguistic awareness (that is, their awareness of how a language works) and bilingual as well as bicultural competence, school administrators hardly trust them. 

In fact, their knowledge of the local language and culture — which is a significant advantage, as current research shows — is erroneously considered to be an impediment to successful teaching.

Thus, local teachers might develop an inferiority complex or suffer from the “impostor syndrome”.

The reverse could apply to “native” speakers, who might develop a superiority complex.

These beliefs need to stop. Local teachers are an asset; in fact, “native” speakers could at times hinder the learning process (by having too high or low expectations, simplifying too much to their students, not knowing about the local language, disrespecting their students through infantilising them or disregarding their culture, etc.).

This is not to denigrate “native” speakers, but to emphasise qualifications, irrespective of teachers’ identities.

It is high time that prejudice against local teachers stopped. As long as they are qualified, there should be no discrimination against them in terms of salaries, hiring opportunities and, most importantly, respect.

Furthermore, one hopes that even the term “native” speaker will be replaced with “expert” speaker, as many experts in the field have suggested. 

One might wonder whether discussing native-speakerism while our region is in turmoil is superfluous.

The response is twofold. Discussing educational matters is never superfluous. Second, discussing and ultimately overcoming an issue like native-speakerism — an undoubtedly racist ideology — is a necessity in a world where intolerance and prejudice are on the rise.

I said above that teachers are born, not made. I also suggested that most successful teachers are actually made, as the first group is a minority.

Bad teachers could be made, too, when they are allowed to teach despite lack of qualifications or when they are denied access to their rights because of their skin colour or national identity.

The writer, a Fulbright scholar, contributed this article to The Jordan Times.

Source: Jordan Times

 

Ảo tưởng về người bản ngữ

Cách đây vài tháng, khi đang dạo bước bên trong một tòa nhà, tôi không thể không chú ý tới một mẩu quảng cáo trên tấm bảng thông cáo.

Mẩu quảng cáo giới thiệu một khóa học nhắm đến những người học tiếng Anh như một ngoại ngữ ở Jordan. Trên đó viết "giáo viên của chúng tôi đều là người bản ngữ đủ điều kiện".

Tôi không lấy làm ngạc nhiên bởi vì tôi đã quá quen thuộc với những mẩu quảng cáo kiểu này.

Sự quen thuộc này đến từ năm này sang năm khác khi cứ nghe thấy và đọc được những tuyên bố tương tự. Ai đó đã nói rằng nếu người học muốn trở nên giỏi tiếng Anh hơn, họ cần phải học ở một học viện mà ở đó toàn thể cán bộ công nhân viên giảng dạy đều phải là người "bản ngữ".

Học với người "bản ngữ" được cho là lộ trình ngắn nhất để đến với sự thành công trong việc học một ngôn ngữ của học viên, đặc biệt là về mặt phát âm và nói. Nếu các học viên đi theo lộ trình này, họ sẽ có thể phát triển cách nhấn âm giống như người bản xứ. Và lúc đó, học viên sẽ tưởng rằng mình đã tiến gần đến sự hoàn hảo.

Tất cả những tuyên bố này được củng cố bởi những điều mà các nhà lý luận Ngôn ngữ học ứng dụng, Robert Phillipson và Adrian Holliday lần lượt gọi là nguỵ biện nói giọng bản ngữ và chủ nghĩa nói tiếng bản ngữ.

Theo họ, và theo một loạt các chuyên gia giảng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ hoặc một ngôn ngữ thứ hai, những niềm tin như vậy chẳng là gì cả ngoài những điều hoang đường.

Họ cho thấy rằng điểm đặc trưng của giáo viên không bao giờ trình bày được sự thành công của phương pháp giảng dạy vì một lý do rất đơn giản là: một người bản ngữ của một thứ tiếng không nhất thiết phải có khả năng dạy thứ tiếng đó.

Mặc dù có một vài (một phần rất ít) những người được sinh ra là để làm giáo viên, phần lớn mọi người tự tạo kỹ năng đó cho mình, thông qua việc phát triển những kỹ năng sư phạm và các chiến lược cần thiết trong một thời gian dài.

Tôi, là một người "bản xứ" nói tiếng Ả Rập, và tôi không thể tuyên bố rằng tôi có thể dạy lại thứ tiếng của mình cho người Ả Rập, huống chi là dạy cho những người học tiếng Ả Rập như ngôn ngữ thứ hai hoặc ngoại ngữ. Bởi vì, tôi không được đào tạo hay có chuyên môn - những điều cho phép tôi có thể thực hiện việc đó một cách hiệu quả.

Một vấn đề khác nữa của lối lý luận này (hay đúng hơn là chuyện vô lý) là nó đặt hết trách nhiệm của việc học lên giáo viên, chứ không phải người học.

Có một sự thật đã được chứng minh, đó là không màn đến khả năng giảng dạy của giáo viên mà việc giảng dạy hiệu quả nhiều khi không nhất thiết phải dẫn đến việc học tốt.

Nhiệm vụ của học viên là học tập và nhờ đó mà tiến bộ. Giáo viên chỉ có thể giúp cho quá trình học dễ dàng hơn; giáo viên nói chung và giáo viên bản ngữ nói riêng đều không phải là ảo thuật gia.

Thậm chí khi nói đến việc dạy phát âm và nói, người "bản ngữ" có thể không phải là những giáo viên tốt nhất, mặc dù quản lý, phụ huynh, học sinh và thậm chí là một vài giáo viên khác đều có chung niềm tin như vậy.

Ngoại trừ việc cải cách lối lý luận về giọng nói của người "bản ngữ" (cái mà, nếu đúng là như vậy, vẫn có thể được thay thế bằng máy ghi âm hoặc đĩa CD), các nghiên cứu còn cho thấy rằng không có sự tương quan nào giữa đặc trưng của giáo viên với khả năng nói của học sinh.

Ví dụ, John M.Levis cùng những người khác (2016) đã sắp xếp một nghiên cứu mà ở đó hai giáo viên, một là người bản xứ và một người không phải người bản xứ, dạy phát âm cho hai nhóm học sinh.

Cả hai nhóm đều tuân theo cùng một kế hoạch giảng dạy, làm cùng bài tập giống nhau, phân hạng như nhau và học sinh của họ được đánh giá bởi cùng một máy phân hạng trung lập.

Nghiên cứu này kết luận rằng nét đặc trưng của giáo viên không hề có liên quan, ngay cả trong việc dạy phát âm.

Bất chấp việc có những nghiên cứu như vậy, thật không may là quan niệm về người bản xứ vẫn được tiếp diễn và đã có những hậu quả tai hại cho cả học sinh và giáo viên.

Học sinh bị yêu cầu đạt được những kết quả vô lý.

Sẽ gần như không thể để đạt được khả năng giống như người bản xứ bởi vì rất nhiều lý do, bao gồm cả tuổi tác, chuẩn bị về mặt tâm lý, sự miễn cưỡng, v.v.

Nếu như học sinh liên tục bị yêu cầu phải phát triển khả năng giống như người bản xứ, họ sẽ cảm thấy nản chí và cực kỳ thiếu tự tin.

Mặc khác, giáo viên bản địa bị thiệt hại theo nhiều hướng. Họ bị phân biệt đối xử, khi mà họ có xu hướng nhận được ít việc hơn, lương thấp hơn và ít được tôn trọng hơn. Điều cuối cùng, đã được thực tế chứng minh là kiến thức của họ thường bị nghi ngờ.

Mặc cho họ có kiến thức về ngôn ngữ học (tức là, hiểu được cách thức hoạt động của một ngôn ngữ) cùng khả năng song ngữ cũng như đa văn hóa, các quản trị viên của trường học vẫn khó mà tin tưởng họ.

Thực tế, hiểu biết của họ về ngôn ngữ và văn hóa bản địa - thứ mà theo như nghiên cứu gần đây cho thấy là một lợi thế quan trọng - lại bị xem xét một cách sai lầm thành một trở ngại trong việc dạy học thành công.

Vì thế cho nên, giáo viên bản địa có thể bị mặc cảm tự ti hoặc phải chịu đựng "hội chứng mạo danh".

Trái lại người "bản ngữ" cũng phải đối mặt với vấn đề tương ứng, họ có thể sẽ bộc lộ trạng thái mặc cảm tự tôn.

Những niềm tin như thế cần phải dừng lại. Giáo viên bản địa là vốn quý; trên thực tế, người "bản ngữ" lắm lúc cũng gây trở ngại trong quá trình học (bởi vì có sự mong đợi quá cao hoặc quá thấp, đơn giản hóa quá mức với học sinh của họ, không biết ngôn ngữ bản địa, không coi trọng học sinh của họ qua việc coi chúng như trẻ con hoặc không quan tâm đến văn hóa, v.v.)

Đây không phải là chê bai người "bản ngữ", mà là để nhấn mạnh rằng trình độ chuyên môn không liên quan gì đến đặc trưng của giáo viên.

Đã đến lúc những định kiến về giáo viên bản địa cần được dừng lại. Miễn là họ có đủ khả năng thì không nên có sự phân biệt đối xử với họ về các mặt như lương bổng, cơ hội việc làm và quan trọng nhất là sự tôn trọng.

Thêm nữa, người ta hi vọng là ngay cả cụm từ người "bản ngữ" cũng sẽ được thay thế bằng "chuyên gia", như nhiều chuyên gia trong lĩnh vực này đã được đề cập đến.

Người ta có thể sẽ tự hỏi rằng bàn về thuyết người bản ngữ trong khi khu vực của chúng ta còn đang trong tình trạng rối loạn có phải là chuyện thừa thãi hay không.

Câu trả lời là cần thiết gấp đôi. Bàn về vấn đề giáo dục không bao giờ là dư thừa. Thứ hai, việc bàn luận và cuối cùng vượt qua được một vấn đề như thuyết người bản ngữ - một hệ tư tưởng chắc chắn là phân biệt chủng tộc - là cần thiết trên thế giới, nơi mà sự không khoan nhượng và thành kiến đang ngày càng gia tăng.

Tôi đã nói ở trên là giáo viên được sinh ra, chứ không phải được tạo ra. Tôi cũng đưa ra giả thuyết là hầu hết những giáo viên thành công nhất quả thật thường được tạo ra, vì nhóm đầu tiên là thiểu số.

Những giáo viên yếu kém cũng được tạo ra, khi họ được cho phép giảng dạy bất chấp sự thiếu hụt về chất lượng hoặc khi họ từ chối tiếp cận các quyền của họ vì màu da hoặc vì bản sắc dân tộc.

Người viết, một học giả Fulbright, đã đóng góp bài báo này cho báo Jordan Times.

 

Dịch bởi: thuthao2204

bài viết đặc sắc trong tháng 09/2017

4 giá trị cốt lõi trong chương trình học tiếng Anh tại trung tâm Anh ngữ CEP

Đây là những giá trị quan trọng nhất và cũng là những điều tâm huyết nhất mà chúng tôi, những người nhìn giáo dục như một quá trình tự học hỏi, tự thay đổi và hoàn thiện bản thân trước…

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục