Tin song ngữ

  1. Tin tức song ngữ Anh-Việt
  2. Thời sự
  3. Giáo dục
  4. Học ngôn ngữ cần nhiều thứ hơn ngoài việc ghi nhớ

Học ngôn ngữ cần nhiều thứ hơn ngoài việc ghi nhớ

26/09/2017
Mức căn bản

Learning language requires more than memorisation

Technology has expedited learning and communicating in languages by facilitating typing the characters, finding out their meaning and pronunciation, automatic translation, and access to language courses and resources.

Yet, barring language-learning apps, it has not been a game-changer.

While familiarity with characters is necessary in order to use the dictionary, develop one's vocabulary, read and write or type, one should always keep in mind to what extent learners of the language require it to take exams, and to what degree they need it for day-to-day oral communication. Neither is it always necessary (or possible) to comprehend all the words in an article.

Memorisation and recycling lie at the foundation of any learning (Repetition, memorising standard processes of learning language, by Mr Syed Alwi Altahir; Sept 13). That does not mean we need to cram everything in the same way Latin used to be taught.

The reason children are frequently taught via mimicry - by repeating sentences, rhymes and songs - is connected with young learners' cognitive characteristics, such as short concentration span, relatively weak memory, lower-order processing, inability to observe regularities and causal relations, lack of awareness of a language's internal structure, undeveloped grammatical sensitivity, and lack of inductive ability.

This is why children's linguistic production does not depend on explicit knowledge, but must be developed implicitly and requires constant repetition.

While vocabulary is based on mechanical, short-term memory, grammar relies on long-term logical memory, which develops in conjunction with abstract thinking and does not reach full competence until around puberty. Thus, learners under the age of 12 or 13 can ably repeat and memorise words and longer expressions, but are not yet able to analyse them.

These limitations naturally do not hold for adolescents and adults, who have the mental capacity to focus on purely formal linguistic features and already possess literacy in at least one other language.

While the grammar-translation method of repeating after the teacher was common in the past, it is anything but "the standard process of learning most languages" now, with language education in an increasing number of countries having shifted to communicative approaches and content-and-language integrated learning models.

Successful language acquisition requires massive exposure to material that learners find meaningful, interesting and useful, and ample opportunities for individualised practice and production.

Michal B. Paradowski (Dr)

Source: The Straits Times

 

Học ngôn ngữ cần nhiều thứ hơn ngoài việc ghi nhớ

Công nghệ đã đẩy nhanh việc học và giao tiếp một thứ tiếng bằng cách tạo điều kiện thuận tiện cho việc gõ ra các ký tự, tìm nghĩa của chúng và cách phát âm, dịch tự động và truy cập các khóa học ngôn ngữ và các nguồn tài nguyên khác.

Song, trừ các ứng dụng học ngôn ngữ, đó vẫn chưa phải là một "kẻ thay đổi cuộc chơi".

Mặc dù quen thuộc với các ký tự là điều cần thiết để có thể sử dụng từ điển, phát triển vốn từ vựng của một người, đọc và viết hoặc đánh máy, tuy nhiên người ta cũng phải lưu ý đến phạm vi ngôn ngữ nào là người học cần có để thi cử, còn phạm vi nào là cần thiết để giao tiếp hàng ngày. Việc hiểu hết mọi từ trong một bài báo không phải lúc nào cũng cần thiết (hoặc có thể).

Ghi nhớ và dùng lại là nền tảng của bất kỳ quá trình học tập nào (Repetition, ghi nhớ các quá trình tiêu chuẩn của ngôn ngữ học, của Syed Alwi Altahir; 13 tháng 9). Điều đó không có nghĩa là chúng ta cần phải nhồi nhét mọi thứ theo cùng một cách mà tiếng Latin từng được giảng dạy.

Lý do trẻ thường xuyên được dạy thông qua việc bắt chước - bằng cách lặp lại các câu, vần thơ và bài hát - có liên quan đến đặc điểm nhận thức của trẻ, chẳng hạn như độ tập trung không cao, bộ nhớ tương đối yếu, khả năng sắp xếp phân loại thấp, không có khả năng quan sát các quan hệ nhân quả, thiếu nhận thức về cấu trúc nội tại của một ngôn ngữ, tính nhạy cảm về ngữ pháp chưa được hình thành và thiếu khả năng quy nạp.

Đó là lý do tại sao việc hình thành ngôn ngữ ở trẻ không phụ thuộc vào kiến ​​thức rõ ràng, mà phải được phát triển hoàn toàn và đòi hỏi lặp lại liên tục.

Trong khi từ vựng dựa trên bộ nhớ ngắn hạn, nhớ theo cách máy móc thì ngữ pháp lại dựa vào bộ nhớ logic dài hạn, nó phát triển kết hợp với suy nghĩ trừu tượng và sẽ không đạt được trọn vẹn hết khả năng cho đến khi bước vào tuổi dậy thì. Do đó, học sinh dưới 12 hoặc 13 tuổi có khả năng lặp lại và ghi nhớ các từ và thành ngữ dài hơn, nhưng vẫn chưa thể phân tích chúng.

Những hạn chế tự nhiên này không ảnh hưởng đến thanh thiếu niên và người trưởng thành, những người có khả năng tập trung tinh thần vào những đặc điểm của ngôn ngữ trang trọng một cách thuần túy và đã có khả năng đọc hoặc viết được ít nhất một ngôn ngữ khác.

Mặc dù phương pháp ngữ pháp - dịch trong quá trình lặp lại ngay sau khi giáo viên dạy là điều khá phổ biến trong quá khứ, nhưng ngày nay, nó đã không còn là "quy trình chuẩn để học hầu hết mọi ngôn ngữ", nền giáo dục ngôn ngữ ngày càng phát triển ở các quốc gia đã chuyển sang tiếp cận việc giao tiếp cởi mở cùng với các mô hình học tập tích hợp nội dung - và - ngôn ngữ.

Tiếp thu thành công một thứ tiếng đòi hỏi việc phải tiếp xúc nhiều với những tài liệu mà người học cảm thấy có ý nghĩa, thú vị, hữu ích, và có nhiều cơ hội cho việc thực hành cá nhân và trình bày.

Michal B. Paradowski (Tiến sĩ)

 

Dịch bởi: thuthao2204

bài viết đặc sắc trong tháng 01/2018

4 giá trị cốt lõi trong chương trình học tiếng Anh tại trung tâm Anh ngữ CEP

Đây là những giá trị quan trọng nhất và cũng là những điều tâm huyết nhất mà chúng tôi, những người nhìn giáo dục như một quá trình tự học hỏi, tự thay đổi và hoàn thiện bản thân trước…

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục