Tin song ngữ

  1. Tin tức song ngữ Anh-Việt
  2. Thời sự
  3. Giáo dục
  4. Một thành kiến ngôn ngữ được gọi là chủ nghĩa chuộng người bản xứ

Một thành kiến ngôn ngữ được gọi là chủ nghĩa chuộng người bản xứ

Mức trung cấp

A linguistic prejudice called native-speakerism

There are more non-native English speakers in the world than there are native speakers, and non-native English speakers who learned English systematically are usually apt to be more proficient in the language than native English speakers for whom the language is just an inherited tongue and not a subject of systematic study.

In spite of these self-evident facts, however, there is a tendency to privilege the English of native speakers and look down on the varieties of English spoken by non-native English speakers, even if the varieties conform to prevailing standards of grammar and usage. This phenomenon is called “native-speakerism.”

Native-speakerism is especially pervasive in the English Language Teaching (ELT) industry where native English speakers from Britain and America are preferred to non-native speakers as teachers of the language (especially in Asia) even where the native speakers have no expert knowledge of the language and non-native speakers do.

In a 2014 article, Adrian Holliday, a native English speaker, said native-speakerism is “a neo-racist ideology that has wide-ranging impact on how teachers are perceived by each other and by their students.

By labelling teachers as separate ‘native speakers’ and ‘non-native speakers’, it falsely positions them as culturally superior and inferior with separate roles and attributes.

While Western in origin, native-speakerism is present across the profession and results in employment discrimination and a divisive professional discourse.”

In the essay you will read below, Mario Saraceni, Senior Lecturer in English Language and Linguistics, at the University of Portsmouth, argues that native-speakerism is misguided.

His article, which connects native-speakerism with prejudice against immigrants in the UK, was originally titled “Why your ability to speak English could be judged on how you look” and was published on January 12, 2017 on a website called “The Conversation.” Enjoy it.

When MPs published a set of new proposals in early January on ways to improve the integration of immigrants in the UK, one of the most controversial concerned speaking English. The report from the All Party Parliamentary Group on Social Integration, chaired by the Labour MP Chuka Umunna, proposed that:

All immigrants should be expected to have either learned English before coming to the UK or be enrolled in compulsory ESOL [English for Speakers of Other Languages] classes upon arrival.

The assumption here is that migrants don’t speak English, or not well enough to integrate within British society.

However, this disregards the fact that English is a global language, spoken by up to two billion multilingual people around the world.

It is a case of what the linguist Adrian Holliday termed “native-speakerism” - the belief in the linguistic superiority of “native speakers” and the consequent discrimination of those who are considered “non-native speakers”.

But the distinction between native speakers and non-native speakers is often not just based on actual language skills, but, far more disturbingly, on assumptions based on ethnicity.

Language and look

An example of the sensitivities around this issue were clearly on display during a Channel 4 news report on the MPs’ report on January 5.

The report included brief interviews with two women currently living in the UK, one from Somalia and the other from The Gambia.

They were meant to represent examples of the particular category of migrants requiring compulsory English language classes under the new proposals. But both women spoke good English when answering the interviewer’s questions about the current lack of English class provision.

The two women were from Sub-Saharan Africa, were of an ethnicity that was visibly different from that of a typical white British person and, in the case of the Gambian woman, wore clothes that marked non-Judaeo-Christian cultural and religious affiliations.

They not only represented migrants needing English language tuition but prototypical migrants, exhibiting suitably “exotic” traits that identified them as such.

There are two widespread underlying assumptions here that need to be challenged. The first relates to the ways in which national identity is often understood in terms of ethnicity.

As the cultural scholar Paul Gilroy remarked in his book There Ain’t No Black in the Union Jack, in Britain “conceptions of national belonging and homogeneity … not only blur the distinction between ‘race’ and nation, but rely on that very ambiguity for their effect”.

The second assumption is that there is an exclusive bond between a language and the nation it naturally belongs to - a point I have discussed previously on The Conversation.

Speaking with legitimacy

In turn, these two assumptions combined produce a third one: only those who are the rightful members of a nation, by birth and by race, are legitimate speakers of the language of that nation.

Citing a number of research studies, Holliday made the point that native-speakerism is not a matter of language alone, but is closely connected to ethnicity and race, even though this connection is rarely made explicit.

It produces situations of great inequality around the world. In the field of English language teaching, for example, it is not uncommon for jobs to be available exclusively to native speakers (sometimes explicitly defined as “white” or “Caucasian”), or for non-native speakers to receive significantly lower remuneration even when they possess higher qualifications.

This kind of inequity affects migrants in general. A 2011 study found that African migrants’ “accents and varieties of English had been treated as inferior by ‘native speakers’ in traditional English speaking countries.” According to the study, migrants were also:

Made to feel as if they were unproficient in English, weak in communication skills, or unintelligible. They got the impression that only speaking in the prestige/native varieties of English counted for proficiency and educational or professional success.

Native-speakerism is also intertwined with a colonial view of the world where the coloniser is attributed with cultural superiority over the colonised. This mentality has persisted well after the end of colonialism and is so pervasive that it affects the ways non-native speakers see themselves too - as inadequate and defective users of English.

Tellingly, the Gambian woman in the Channel 4 segment said, “I don’t have confidence for myself to speak English” - summing up this mindset exactly.

It is important that we become more conscious of the fact that English is not just an “English” language and that the ability to speak it has nothing to do with how “English” a person looks or behaves.

Source: Nigerian Breaking News


Một thành kiến ngôn ngữ được gọi là chủ nghĩa chuộng người bản xứ

Trên thế giới, số người dùng tiếng Anh không phải là dân bản xứ ngày càng nhiều hơn số người bản xứ. Người nói tiếng Anh không phải dân bản xứ học tiếng Anh một cách có phương pháp, họ thường có xu hướng thông thạo ngôn ngữ hơn so với đa phần người bản ngữ. Đối với những người bản xứ đó, ngôn ngữ của họ chỉ là ngôn ngữ được thừa kế và không phải là một đối tượng được nghiên cứu có hệ thống.

Bất chấp những sự thật hiển nhiên này, vẫn hiện diện một xu hướng dành đặc quyền cho tiếng Anh của người bản xứ và xem nhẹ các loại tiếng Anh khác do những người phi bản xứ nói, ngay cả khi các loại tiếng Anh này phù hợp với tiêu chuẩn về ngữ pháp và cách sử dụng đang thịnh hành. Hiện tượng này được gọi là "chủ nghĩa chuộng người bản xứ".

Chủ nghĩa chuộng người bản xứ đặc biệt phổ biến trong ngành công nghiệp giảng dạy tiếng Anh (ELT), nơi mà những người nói tiếng Anh bản ngữ đến từ nước Anh và nước Mỹ được ưa chuộng hơn so với những người không phải là người bản xứ dù rằng những người phi bản xứ này là các giáo viên dạy ngôn ngữ (đặc biệt là ở Châu Á), thậm chí ngay cả khi người bản xứ không có kiến thức chuyên môn về ngôn ngữ thì cơ hội để họ trở thành giáo viên tiếng Anh vẫn nhiều hơn so với những người phi bản xứ có chuyên môn về mặt giảng dạy.

Trong một bài viết năm 2014, Adrian Holliday, một người nói tiếng Anh bản ngữ, cho biết chủ nghĩa chuộng người bản xứ là "một hệ tư tưởng phân biệt chủng tộc mới" có ảnh hưởng sâu rộng đến cách thức giáo viên nhận được sự công nhận từ các giáo viên khác và từ những học sinh của họ.

Bằng cách gắn nhãn hiệu phân biệt là giáo viên "người bản xứ" và "không phải người bản xứ", người ta đánh giá vị trí của họ một cách sai lầm khi đặt họ vào tư thế cao hơn và thấp hơn trên phương diện văn hóa với các vai trò và đặc trưng riêng biệt.

Trong khi phương Tây về nguyên bản, chủ nghĩa chuộng người bản xứ hiện diện trong các ngành nghề và dẫn đến sự phân biệt trong quá trình tuyển dụng cùng những cuộc bàn luận về nghề nghiệp mang tính chia rẽ."

Trong bài luận bạn sẽ đọc dưới đây, Mario Saraceni, Giảng viên cao cấp về Ngôn ngữ Anh và Ngôn ngữ học, tại Đại học Portsmouth, lập luận rằng chủ nghĩa chuộng người bản xứ là đầy sai lầm.

Bài báo của ông, đặt chủ nghĩa chuộng người bản xứ trong mối quan hệ với định kiến chống lại người nhập cư ở Anh, ban đầu có tiêu đề "Tại sao khả năng nói tiếng Anh của bạn lại có thể bị đánh giá theo cách bạn trông như thế nào" và được xuất bản vào ngày 12 tháng 1 năm 2017 trên trang web "The Conversation". Hãy thưởng thức nó.

Vào đầu tháng giêng, khi các nghị sĩ đưa ra một loạt các đề xuất mới về việc cải thiện sự hòa nhập của người nhập cư ở Anh, một trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất liên quan đến việc nói tiếng Anh. Báo cáo của Nhóm Nghị sĩ liên Đảng về Hòa nhập xã hội do Chủ tịch đảng Lao động Chuka Umunna chủ trì, đã đề xuất rằng:

Tất cả người nhập cư cần phải học tiếng Anh trước khi đến Vương quốc Anh hoặc tham dự các lớp học ESOL [Anh ngữ cho người nói ngôn ngữ khác] bắt buộc khi nhập cư.

Giả định ở đây là người di cư không nói được tiếng Anh, hoặc không đủ giỏi để hòa nhập vào xã hội Anh.

Tuy nhiên, điều này không tính đến thực tế rằng tiếng Anh là một ngôn ngữ toàn cầu, được nói bởi hai tỷ người có tiếng mẹ đẻ khác nhau ở khắp nơi trên thế giới.

Đây là trường hợp mà nhà ngôn ngữ học Adrian Holliday gọi là "chủ nghĩa chuộng người bản xứ" - niềm tin vào tính ưu việt ngôn ngữ của "người bản xứ" và sự phân biệt đối xử với những người được coi là "người phi bản xứ".

Tuy nhiên, sự khác biệt giữa người bản xứ và phi bản xứ thường không chỉ dựa vào các kỹ năng ngôn ngữ thực tế, mà đáng lo ngại hơn, người ta lại phân biệt dựa trên các giả định lấy sắc tộc làm nền tảng.

Ngôn ngữ và vẻ ngoài

Một ví dụ về tính nhạy cảm xung quanh vấn đề này đã được trình bày rõ ràng trong một bản bản tin trên Channel 4 về báo cáo của các Nghị sĩ vào ngày 5 tháng 1.

Báo cáo bao gồm những cuộc phỏng vấn ngắn với hai phụ nữ hiện đang sinh sống tại Anh, một người đến từ Somalia và một người từ Cộng hòa Gambia.

Họ được xem là những đại diện cho tầng lớp dân di cư đặc biệt đang yêu cầu được học các lớp tiếng Anh bắt buộc theo những đề xuất mới. Nhưng cả hai phụ nữ nói tiếng Anh khá tốt khi trả lời các câu hỏi của người phỏng vấn về việc hiện tại đang thiếu nguồn cung cấp các lớp tiếng Anh.

Hai phụ nữ đến từ tiểu vùng Sahara Châu Phi, là vùng có dân tộc khác biệt rõ nét so với người Anh da trắng điển hình, và trong trường hợp với người phụ nữ Gambia, cô mặc loại trang phục cho thấy cô không hòa nhập được vào tôn giáo và văn hóa Ki Tô - Do Thái.

Họ không chỉ đại diện cho những người nhập cư đang cần học tiếng Anh mà còn là những người di cư điển hình, có những đặc điểm "ngoại lai" phù hợp mà họ được nhận diện là cần học tiếng Anh.

Ở đây, có hai giả định cơ bản phổ biến cần phải được kiểm chứng. Điều đầu tiên liên quan đến phương thức mà bản sắc dân tộc thường được hiểu dưới dạng tính cách sắc tộc.

Như học giả văn học Paul Gilroy đã nhận xét trong cuốn sách There Ain’t No Black in the Union Jack (tạm dịch: Không có màu đen trong quốc kỳ của Vương quốc Anh), ở Anh "khái niệm thống nhất và thuộc về quốc gia ... không chỉ làm mờ đi sự khác biệt giữa 'loại người' và dân tộc mà còn tin tưởng vào sự cực kỳ mơ hồ đó do các tác động của chúng".

Giả định thứ hai là có một mối liên kết riêng biệt giữa một ngôn ngữ với quốc gia mà nó tự nhiên là phải thuộc về - một điểm mà trước đây tôi đã thảo luận trên The Conversation.

Cách nói chính thống

Ngược lại, hai giả định này kết hợp lại tạo ra giả định thứ ba: chỉ có những người là thành viên hợp pháp của một quốc gia, cả về nơi sinh ra lẫn dòng dõi, mới là những người phát ngôn chính thống của ngôn ngữ quốc gia đó.

Trích dẫn một số nghiên cứu, Holliday cho rằng chủ nghĩa chuộng người bản xứ không chỉ là vấn đề về ngôn ngữ, mà còn gắn liền với sắc tộc và dòng dõi, mặc dù mối liên hệ này hiếm khi được làm rõ.

Điều này tạo ra tình thế bất bình đẳng lớn trên toàn thế giới. Ví dụ như trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh, không hiếm trường hợp các công việc chỉ dành cho người bản xứ (đôi khi được xác định rõ ràng là "người da trắng" hoặc "người thuộc chủng tộc người da trắng"), hoặc người phi bản xứ có thể làm nhưng mức thù lao nhận được lại thấp hơn đáng kể ngay cả khi họ có bằng cấp cao hơn.

Loại bất bình đẳng này ảnh hưởng đến người di cư nói chung. Một nghiên cứu năm 2011 cho thấy rằng "giọng và loại tiếng Anh của dân di cư từ Châu Phi đã bị người bản xứ ở các nước có truyền thống nói tiếng Anh cho là yếu kém hơn". Theo nghiên cứu đó, người di cư cũng:

Bị người ta khiến cho cảm thấy như thể họ không thông thạo tiếng Anh, yếu kém trong kỹ năng giao tiếp, hoặc không thể hiểu được. Họ có ấn tượng rằng chỉ có thể nói bằng loại tiếng Anh uy tín/bản xứ mới được tính là thành thạo và thành công trong giảng dạy hoặc chuyên môn nghề nhiệp.

Chủ nghĩa chuộng người bản xứ cũng có sự lồng ghép với quan điểm thuộc địa của thế giới, nơi mà thực dân được gán cho cái danh ưu việt về văn hóa so với những người ở thuộc địa. Tâm lý này vẫn cứ tồn tại dai dẳng sau khi chủ nghĩa thực dân kết thúc và nó phổ biến đến mức gây ảnh hưởng tới cách những người phi bản xứ nhìn nhận bản thân - như những người dùng tiếng Anh không thỏa đáng và đầy thiếu sót.

Nói một cách rõ ràng hơn, người phụ nữ Gambia trong phân đoạn trên Channel 4 đã nói, "Tôi không có tự tin để nói tiếng Anh" - đã tổng kết lại lối tư duy này một cách chính xác.

Điều quan trọng là chúng ta ngày càng trở nên ý thức hơn với thực tế rằng tiếng Anh không chỉ là một ngôn ngữ "của người Anh" và khả năng nói được thứ tiếng này không liên quan gì đến việc một người phải có vẻ ngoài hay cách cư xử "của người Anh".

Dịch bởi: Tramtt

bài viết đặc sắc trong tháng 07/2020

Tại sao thầy Ce Phan lại tạo kênh Youtube bằng tiếng Anh?

Thầy Ce Phan được biết đến như là một giáo viên dạy tiếng Anh tại thành phố Hồ Chí Minh trước khi chuyển đến sống tại Nhật Bản vào năm 2018.

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục