Tin song ngữ

  1. Tin tức song ngữ Anh-Việt
  2. Khoa học - Công nghệ
  3. Khoa học - Nghiên cứu
  4. Những nhà khoa học tình cờ

Những nhà khoa học tình cờ

Mức trung cấp

Accidental Scientists

A paradox lies close to the heart of scientific discovery. If you know just what you are looking for, finding it can hardly count as a discovery, since it was fully anticipated. But if, on the other hand, you have no notion of what you are looking for, you cannot know when you have found it, and discovery, as such, is out of the question. In the philosophy of science, these extremes map onto the purest forms of deductivism and inductivism: In the former, the outcome is supposed to be logically contained in the premises you start with; in the latter, you are recommended to start with no expectations whatsoever and see what turns up.

As in so many things, the ideal position is widely supposed to reside somewhere in between these two impossible-to-realise extremes. You want to have a good enough idea of what you are looking for to be surprised when you find something else of value, and you want to be ignorant enough of your end point that you can entertain alternative outcomes. Scientific discovery should, therefore, have an accidental aspect, but not too much of one. Serendipity is a word that expresses a position something like that. It’s a fascinating word, and the late Robert King Merton—“the father of the sociology of science”—liked it well enough to compose its biography, assisted by the French cultural historian Elinor Barber.

The word did not appear in the published literature until the early 19th century and did not become well enough known to use without explanation until sometime in the first third of the 20th century. Serendipity means a “happy accident” or “pleasant surprise”, specifically, the accident of finding something good or useful without looking for it. The first noted use of “serendipity” in the English language was by Horace Walpole. He explained that it came from the fairy tale, called The Three Princes of Serendip (the ancient name for Ceylon, or present day Sri Lanka), whose heroes “were always making discoveries, by accidents and sagacity, of things which they were not in quest of’.

Antiquarians, following Walpole, found use for it, as they were always rummaging about for curiosities, and unexpected but pleasant surprises were not unknown to them. Some people just seemed to have a knack for that sort of thing, and serendipity was used to express that special capacity. The other community that came to dwell on serendipity to say something important about their practice was that of scientists, and here usages cut to the heart of the matter and were often vigorously contested. Many scientists, including the Flarvard physiologist Walter Cannon and, later, the British immunologist Peter Medawar, liked to emphasise how much of scientific discovery was unplanned and even accidental. One of the examples is Hans Christian Orsted’s discovery of electromagnetism when he unintentionally brought a current-carrying wire parallel to a magnetic needle. Rheto-ric about the sufficiency of rational method was so much hot air. Indeed, as Medawar insisted, “There is no such thing as The Scientific Method,” no way at all of systematis-ing the process of discovery. Really important discoveries had a way of showing up when they had a mind to do so and not when you were looking for them. Maybe some scientists, like some book collectors, had a happy knack; maybe serendipity described the situation rather than a personal skill or capacity.

Some scientists using the word meant to stress those accidents belonging to the situation; some treated serendipity as a personal capacity; many others exploited the ambiguity of the notion. Yet what Cannon and Medawar took as a benign nose-thumbing at Dreams of Method, other scientists found incendiary. To say that science had a significant serendipitous aspect was taken by some as dangerous denigration. If scientific discovery were really accidental, then what was the special basis of expert authority? In this connection, the aphorism of choice came from no less an authority on scientific discovery than Louis Pasteur: “Chance favors the prepared mind.” Accidents may happen, and things may turn up unplanned and unforeseen, as one is looking for something else, but the ability to notice such events, to see their potential bearing and meaning, to exploit their occurrence and make constructive use of them—these are the results of systematic mental preparation. What seems like an accident is just another form of expertise. On closer inspection, it is insisted, accident dissolves into sagacity.

The context in which scientific serendipity was most contested and had its greatest resonance was that connected with the idea of planned science. The serendipitists were not all inhab-itants of academic ivory towers. As Merton and Barber note, two of the great early-20th-century American pioneers of industrial research—Willis Whitney and Irving Langmuir, both of General Electric—made much play of serendipity, in the course of arguing against overly rigid research planning. Langmuir thought that misconceptions about the certainty and ratio-nality of the research process did much harm and that a mature acceptance of uncertainty was far more likely to result in productive research policies. For his own part, Langmuir said that satisfactory outcomes “occurred as though we were just drifting with the wind. These things came about by accident.” If there is no very determinate relationship between cause and effect in research, he said, “then planning does not get us very far.” So, from within the bowels of corporate capitalism came powerful arguments, by way of serendipity, for scientific spontaneity and autonomy. The notion that industry was invariably committed to the regimentation of scientific research just doesn’t wash.

For Merton himself—who one supposes must have been the senior author-serendipity rep-resented the keystone in the arch of his social scientific work. In 1936, as a very young man, Merton wrote a seminal essay on “The Unanticipated Consequences of Purposive Social Action.” It is, he argued, the nature of social action that what one intends is rarely what one gets: Intending to provide resources for buttressing Christian religion, the natural philoso-phers of the Scientific Revolution laid the groundwork for secularism; people wanting to be alone with nature in Yosemite Valley wind up crowding one another. We just don’t know enough—and we can never know enough—to ensure that the past is an adequate guide to the future: Uncertainty about outcomes, even of our best-laid plans, is endemic. All social action, including that undertaken with the best evidence and formulated according to the most rational criteria, is uncertain in its consequences..

Source: IELTS Reading Material


Những nhà khoa học tình cờ

Cốt lõi của việc khám phá khoa học luôn rất gần với một nghịch lý. Giả sử bạn biết trước những gì bạn đang tìm kiếm, thì việc bạn tìm ra nó khó có thể được coi là một khám phá, bởi vì người ta đã dự đoán được nó từ trước rồi. Ngược lại, nếu bạn chẳng hề có một ý niệm gì về thứ bạn đang tìm kiếm, thì bạn sẽ chẳng hay được mình đã tìm ra nó từ lúc nào, và việc khám phá như vậy thì cũng chẳng có ý nghĩa gì. Trong triết học về khoa học, những thái cực này lại dẫn đường tới những hình thái thuần khiết nhất của tư duy diễn dịch và tư duy quy nạp. Ở cách thứ nhất, kết quả có được thường phải được bao hàm một cách logic trong những tiền đề mà bạn đã đưa ra từ đầu; ở cách thứ hai, bạn được khuyến khích bắt đầu (việc khám phá) mà không có một tiên đoán nào trước và cứ xem xem bạn phát hiện ra cái gì.

Cũng như trong nhiều thứ khác, vị trí lý tưởng được cho là nằm đâu đó giữa hai thái cực này. Bạn muốn biết đầy đủ về thứ mà mình đang tìm kiếm, đủ để bạn có thể ngạc nhiên về nó trong khi bạn lại đang tìm một thứ gì đó có giá trị, và bạn cũng muốn mình đủ ngây ngô để tin rằng cuối cùng mình sẽ tìm ra một cái gì đó khác thú vị/ mới mẻ. Cho nên, việc khám phá khoa học nên có một khía cạnh mang tính tình cờ, nhưng đừng thái quá. “Ăn may” là một từ mô tả trạng thái tương tự như vậy. Nó là một từ khá hay mà cha đẻ của ngành xã hội học của khoa học, Robert King Merton, rất yêu thích, tới mức ông đã biên soạn về tiểu sử của từ này, với sự hỗ trợ của một nhà lịch sử văn hóa học người Pháp, Elinor Barber.

Từ này đã không xuất hiện trong văn học chính thống mãi cho tới tận đầu thế kỷ 19 và trong 30 năm đầu của thế kỷ 20, người ta cũng rất ít dùng nó, trừ trường hợp có chú thích kèm theo. “Ăn may” có nghĩa là tình cờ, bỗng nhiên gặp được điều tốt đẹp, đặc biệt là sự tình cờ  tìm thấy một thứ gì đó có giá trị mà chẳng hề phải mất công tìm kiếm. Người đầu tiên dùng từ này trong tiếng Anh là Horace Walpole. Ông này giải thích rằng từ này bắt nguồn từ một câu chuyện cổ tích có tên là Ba chàng hoàng tử của Serendip (tên cổ của vùng Ceylon, hay chính là Sri Lanka ngày nay), các nhân vật chính/  người hùng trong câu chuyện này là những người “nhờ sự tình cờ và sắc sảo, luôn khám phá ra được những thứ mà họ không hề có ý định khám phá từ trước”

Theo chân Walpole, các nhà khảo cổ cũng đã tìm ra cách sử dụng từ này, vì họ luôn luôn sục sạo tìm kiếm những thứ gây tò mò, những điều thú vị bất ngờ không lường trước mà ngay cả chính họ cũng không hề biết. Một số người có sở trường cho những điều như thế và từ “ăn may” đã được sử dụng để diễn tả khả năng này. Số còn lại nhấn mạnh may mắn như một cái gì đó quan trọng trong việc thực hành của họ là cộng đồng các nhà khoa học, và những cách dùng ở đây đã đi thẳng vào nội tại của vấn đề và thường gây ra nhiều tranh cãi. Nhiều nhà khoa học, bao gồm cả nhà sinh lý học của đại học Flarvard Walter Cannon và cả nhà nghiên cứu miễn dịch người Anh Peter Medawar, luôn thích nhấn mạnh vào sự tình cờ, ngẫu nhiên của các khám phá khoa học. Một trong những ví dụ là khám phá của Hans Christian Orsted về hiện tượng điện từ khi ông ta vô tình di chuyển một cuộn dây đồng song song với một cái kim nam châm. Các diễn thuyết về sư hữu hiệu của phương pháp thích hợp thật ra là mang tính thổi phồng. Như Medawar đã khẳng định, “Chẳng có cái gì có thể được gọi là phương pháp khoa học cả”, quá trình khám phá là một quá trình không hề có tính hệ thống. Những khám phá thật sự quan trọng chỉ xuất hiện khi chúng muốn chứ không phải là khi bạn đang kiếm tìm chúng. Có thể một vài nhà khoa học, ví dụ như những người sưu tầm sách, có một sở trường phù hợp, có thể “ăn may” chỉ đề cập tới tình hình/ hoàn cảnh chứ không phải là một khả năng hay kỹ năng cá nhân.

Trong khi có những nhà khoa học mà sử dụng từ này với nghĩa nhấn mạnh tính tình cờ của hoàn cảnh, những nhà khoa học khác lại sử dụng từ này với nghĩa là một khả năng cá nhân, nhiều người khác lại khai thác khía cạnh đa nghĩa của khái niệm này. Tuy nhiên điều mà Cannon và Medawar dùng như một sự chế nhạo thiện chí đối với các phương pháp mơ hồ, thì các nhà khoa học khác lại thấy là có ác ý. Vài người thì cố ý phỉ báng khi nói rằng khoa học có một khía cạnh tình cờ một cách rõ rệt. Nếu khám phá khoa học thực sự chỉ mang tính tình cờ, thì nền tảng đặc biệt của các chuyên gia hóa ra lại chẳng là gì. Liên quan tới điều này, một cách nói khác đến từ không ai khác chính là một nhà chuyên môn khoa học, Louis Pasteur, ông nói: “Cơ hội chỉ đến với những ai biết chuẩn bị”. Khi một người tìm kiếm một thứ gì đó, sự tình cờ có thể xảy ra, và mọi thứ có thể trở nên bất ngờ và khó tiên liệu, nhưng chính khả năng chú ý tới các sự kiện, xem xét mối quan hệ nhân quả và ý nghĩa của chúng, khai thác sự xuất hiện và suy diễn và tác dụng của chúng, mới là biểu hiện của một sự chuẩn bị về trí óc có tính hệ thống. Thứ mà có vẻ như là một sự tình cờ hóa ra lại chỉ là một dạng khác của sự tinh thông. Khi được xem xét kỹ hơn, người ta khẳng định rằng sự tình cờ phá hủy nội tại của sự khôn ngoan.

Bối cảnh mà sự tình cờ trong khoa học gây tranh cãi nhất và có tiếng vang nhất lại liên quan tới ý tưởng về ngành khoa học kế hoạch. Không phải tất cả những người ủng hộ sự tình cờ của khoa học đều là những nhà nghiên cứu tách biệt về học thuật. Theo như ghi chép của Merton and Barber, hai trong số những nhà tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu công nghiệp vào đầu thế kỷ 20- Willis Whitney và Irving Langmuir- cả hai đều làm việc cho GE- đã cố tình dàn dựng nhiều sự tình cờ trong suốt quá trình phản đối việc lên kế hoạch nghiên cứu quá cứng nhắc. Langmuir cho rằng những quan niệm sai lầm về tính chắc chắn và tính thực nghiệm của quá trình nghiên cứu đã gây ra nhiều tổn hại và rằng chấp nhận hoàn toàn tính mơ hồ thì nhiều khả năng sẽ có được những nghiên cứ có hiệu quả/ năng suất. Về phần mình, Langmuir nói rằng những kết quả đáng hài lòng “đã xảy ra mặc dù chúng tôi chỉ thuận theo tự nhiên. Những thứ này tới một cách tình cờ”. Nếu như không tồn tại một mối quan hệ nhất định giữa nguyên nhân và hệ quả trong nghiên cứu, ông nói, “thì việc lên kế hoạch sẽ chẳng giúp được chúng tôi đi xa đến thế”. Vì vậy, khi nói tới ăn may, trong lòng chủ nghĩa tư bản công ty đã xuất hiện những lập luận mạnh mẽ về sự tự phát và tự chủ khoa học. Việc cho rằng ngành thì luôn luôn liên quan tới sự tổ chức của nghiên cứu khoa học thật ra lại chẳng rõ ràng.

Đối với chính Merton- người được cho là tác giả đầu tiên của từ này- thì “ăn may” đại diện cho một trụ cột trong hệ thống tư duy của một công trình khoa học xã hội của ông. Vào năm 1936, khi còn là một chàng trai trẻ, Merton đã viết trong một bài thảo luận về “Hậu quả không tiên liệu được của những hành động xã hội không chủ đích”, rằng: bản chất của hành động xã hội mà một người định hành động thì người khác khó có thể đoán biết được: dự định tạo nền tảng để ủng hộ Thiên chúa giáo, các triết gia thiên bẩm về cuộc cách mạng khoa học lại đặt nền tảng cho chủ nghĩa vô thần/ chủ nghĩa thế tục, những người muốn sống đơn độc trong tự nhiên ở thung lũng Yosemite (thì cuối cùng) lại tụ họp lại gần nhau. Chúng ta không thể biết và sẽ không bao giờ biết liệu quá khứ có phải là một chỉ dẫn đầy đủ cho tương lai hay không. Sự không chắc chắn về các kết quả, thậm chí là kể cả các kế hoạch đã được chuẩn bị cực kỳ chu đáo là một điều luôn luôn hiện hữu. Toàn bộ hoạt động xã hội, bao gồm cả những thứ đã được tiên liệu với những bằng chứng tốt nhất và được minh chứng theo những tiêu chí thực nghiệm nhất, cũng có kết quả không chắc chắn.


Dịch bởi: Nhat Minh

bài viết đặc sắc trong tháng 02/2019

IELTS Reader - Ứng dụng thực hành đọc trong 1 phút 

IELTS Reader được biên soạn theo hướng thực hành chuyên biệt cho từng loại câu hỏi và phù hợp cho cả 2 nhóm thí sinh khi đăng ký vào chương trình IELTS: Học thuật (Academic) và Phổ thông (General). 

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục