Tin song ngữ

  1. Tin tức song ngữ Anh-Việt
  2. Thời sự
  3. Xã hội
  4. ​Phân loại xã hội

​Phân loại xã hội

21/01/2019
Mức căn bản

Classifying societies

Although humans have established many types of societies throughout history, sociologists and anthropologists tend to classify different societies according to the degree to which different groups within a society have unequal access to advantages such as resources, prestige or power, and usually refer to four basic types of societies. From least to most socially Complex they are clans, tribes, chiefdoms and states.

These are small-scale societies of hunters and gatherers, generally of fewer than 100 people, who move seasonally to exploit wild (undomesticated) food resources. Most surviving hunter-gatherer groups are of this kind, such as the Hadza of Tanzania or the San of southern Africa. Clan members are generally kinsfolk, related by descent or marriage. Clans lack formal leaders, so there are no marked economic differences or disparities in status among their members

Because clans are composed of mobile groups of hunter-gatherers, their sites consist mainly of seasonally occupied camps, and other smaller and more specialised sites. Among the latter are kill or butchery sites—locations where large mammals are killed and sometimes butchered— and work sites, where tools are made or other specific activities carried out. The base camp of such a group may give evidence of rather insubstantial dwellings or temporary shelters, along with the debris of residential occupation.

These are generally larger than mobile hunter-gatherer groups, but rarely number more than a few thousand, and their diet or subsistence is based largely on cultivated plants and domesticated animals. Typically, they are settled farmers, but they may be nomadic with a very different, mobile economy based on the intensive exploitation of livestock. These are generally multi-community societies, with the individual communities integrated into the larger society through kinship ties. Although some tribes have officials and even a "capital" or seat of government, such officials lack the economic base necessary for effective use of.

The typical settlement pattern for tribes is one of settled agricultural homesteads or villages. Characteristically, no one settlement dominates any of the others in the region. Instead, the archaeologist finds evidence for isolated, permanently occupied houses or for permanent villages. Such villages may be made up of a collection of free-standing houses, like those of the first farms of the Danube valley in Europe. Or they may be clusters of buildings grouped together, for example, the pueblos of the American Southwest, and the early farming village or small town of (catalhoyuk in modern Turkey.

These operate on the principle of ranking—differences in social status between people. Different lineages (a lineage is a group claiming descent from a common ancestor) are graded on a scale of prestige, and the senior lineage, and hence the society as a whole, is governed by a chief. Prestige and rank are determined by how closely related one is to the chief, and there is no true stratification into classes. The role of the chief is crucial.

Often, there is local specialisation in craft products, and surpluses of these and of foodstuffs are periodically paid as obligation to the chief. He uses these to maintain his retainers, and may use them for redistribution to his subjects. The chiefdom generally has a center of power, often with temples, residences of the chief and his retainers, and craft specialists. Chiefdoms vary greatly in size, but the range is generally between about 5000 and 20,000 persons.

These preserve many of the features of chiefdoms, but the ruler (perhaps a king or sometimes a queen) has explicit authority to establish laws and also to enforce them by the use of a stand-ing army. Society no longer depends totally upon kin relationships: it is now stratified into dif-ferent classes. Agricultural workers and the poorer urban dwellers form the lowest classes, with the craft specialists above, and the priests and kinsfolk of the ruler higher still. The functions of the ruler are often separated from those of the priest: palace is distinguished from temple. The society is viewed as a territory owned by the ruling lineage and populated by tenants who have an obligation to pay taxes. The central capital houses a bureaucratic administration of officials; one of their principal purposes is to collect revenue (often in the form of taxes and tolls) and distribute it to government, army and craft specialists. Many early states developed complex redistribution systems to support these essential services.

This rather simple social typology, set out by Elman Service and elaborated by William Sanders and Joseph Marino, can be criticised, and it should not be used unthinkingly. Never-theless, if we are seeking to talk about early societies, we must use words and hence concepts to do so. Service’s categories provide a good framework to help organise our thoughts.

Source: Wikipedia

 

​Phân loại xã hội

Tuy rằng, loài người đã thiết lập nhiều hình thức xã hội xuyên suốt lịch sử, những nhà xã hội học và nhân chủng học có xu hướng phân chia các hình thức xã hội khác nhau dựa vào mức độ tiếp cận bất bình đẳng của các nhóm khác nhau trong xã hội vào các lợi ích như là nguồn lực, uy tín hoặc quyền lực, và thường xếp thành 4 kiểu cơ bản. Từ đơn giản đến phức tạp nhất về mặt xã hội, đó là thị tộc, bộ tộc, vùng tự trị, quốc gia.

Dạng xã hội có quy mô nhỏ của thợ săn và người hái lượm, thường dưới 100 người, họ di chuyển theo mùa nhằm khai thác những nguồn thức ăn hoang dã (chưa thuần hóa). Đa số các quần thể thợ săn-hái lượm sống sót đều thuộc loại này, như là Hadza ở Tanzania hoặc San ở phía nam Châu Phi. Thành viên thị tộc nhìn chung là họ hàng, gắn kết bởi tổ tiên hoặc hôn nhân. Họ thiếu thủ lĩnh chính thức, do đó không có sự khác biệt rõ rệt về kinh tế hoặc sự chênh lệch về thân phận giữa các thành viên.

Do họ được hợp thành từ các nhóm thợ săn di động, địa bàn của họ chủ yếu gồm các liều trại hoạt động theo mùa và vài nơi nhỏ và chuyên biệt hơn. Trong số đó có các khu giết hoặc xẻ thịt- nơi những động vật có vú lớn bị giết và đôi khi bị làm thịt-  và khu làm việc, nơi các công cụ được làm ra hoặc các hoạt động chuyên môn khác tiến hành. Liều trại của từng nhóm như vậy có thể cung cấp chứng cứ đúng hơn về nơi cư ngụ mỏng manh hoặc nơi cư trú tạm bợ, cùng với những mảnh vụn của khu nhà ở.

Dạng này nhìn chung lớn hơn các nhóm thợ săn- hái lượm di động, nhưng hiếm có số lượng vượt quá vài ngàn, và chế độ ăn hoặc sinh kế dựa chủ yếu vào cây trồng và gia súc. Đặc thù, họ là nông dân định cư, nhưng có thể là du cư với nền kinh tế linh động, rất khác biệt, nhờ vào việc đảy mạnh khai thác gia súc. Đây thường là các đa cộng đồng, gồm các cộng đồng riêng biệt nhập  thành xã hội lớn hơn thông qua quan hệ họ hàng. Mặc dù vài bộ tộc có các chính quyền và thậm chí có "thủ đô" hoặc trụ sở chính phủ, nhưng các chính quyền này thiếu nền tảng kinh tế cần thiết để làm việc hiệu quả.

Mô hình định cư tiêu biểu cho các bộ tộc là dạng trại hoặc làng định cư trồng trọt. Đặc trưng, ​​không hề có một khu định cư chiếm ưu thế hơn hẳn. Thay vào đó, nhà khảo cổ học tìm thấy bằng chứng về các ngôi nhà biệt lập, chiếm dụng lâu dài hoặc về những ngôi làng thường trực. Những ngôi làng như vậy có thể được tạo thành từ một tập hợp các ngôi nhà riêng lẻ, giống như các trang trại đầu tiên của thung lũng  Danube ở Châu Âu. Hoặc đó có thể là cụm các tòa nhà được gộp lại, ví dụ như các thị trấn của vùng Tây Nam của Mỹ, và làng nông nghiệp sơ nguyên hoặc thị trấn nhỏ (tàn tích catalhoyuk ở Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay).

Họ hoạt động theo nguyên tắc xếp hạng-sự khác biệt về địa vị xã hội. Các dòng dõi khác nhau (dòng dõi là một nhóm có nguồn gốc từ một tổ tiên chung) được xếp loại theo mức độ uy tín, và dòng dõi cao cấp, và vì thế xã hội như một tổng thể, được lãnh đạo bởi một trưởng tộc. Uy tín và đẳng cấp được xác định bởi mối liên hệ gần gũi như thế nào với trưởng tộc, và không có sự phân tầng thực sự thành các giai cấp. Vai trò của người trưởng tộc là cốt lõi.

Thường thì, có sự chuyên môn hóa theo địa phương về các sản phẩm thủ công, và sự dư thừa (thặng dư trong kinh tế) và lương thực coi như chi phí một cách định kỳ bắt buộc cho tộc trưởng. Họ sử dụng những thứ này để duy trì những cận thần, và có thể dùng để phân chia lại cho các thần dân của mình.Vùng tự trị thường có một trung tâm quyền lực, thường là các đền thờ, nhà ở của người đứng đầu và những cận thần, và các thợ thủ công. Các khu này đa dạng về quy mô, nhưng nhìn chung phạm vi khoảng từ 5.000 đến 20.000 người.

Họ giữ nguyên nhiều đặc tính của vùng tự trị, nhưng người cai trị (có lẽ là vua hoặc đôi khi là nữ hoàng) có thẩm quyền rõ ràng để thành lập luật cũng như có thể thực thi chúng bằng cách sử dụng một đội quân cố định. Xã hội không còn phụ thuộc hoàn toàn vào mối quan hệ họ hàng: nó được phân tầng thành các giai cấp. Người làm nông và người nghèo ở đô thị thành giai cấp thấp kém nhất,  ở trên là thợ thủ công, và cao hơn là các thầy tu và người thân của người cai trị. Các chức năng của người cai trị thường được tách biệt với các thầy tu: cung điện được tách biệt với đền thờ. Xã hội được xem như là một lãnh thổ thuộc sở hữu của dòng dõi cai trị và người dân thuê nhà có nghĩa vụ nộp thuế. Nhà trung tâm là nơi quản lý hành chính của các quan chức; một trong những mục đích chính của họ là thu thập lợ tức (thường dưới hình thức thuế và phí cầu đường) và phân phát cho chính quyền, quân đội và thợ thủ công. Nhiều quốc gia sơ khai phát triển các hệ thống phức hợp phân phối lại để hỗ trợ các dịch vụ thiết yếu này.

Loại hình xã hội khá đơn giản này, do Elman Service đề ra và được William Sanders và Joseph Marino hoàn chỉnh, có thể bị chỉ trích, và không nên được nhìn nhận một cách thiếu suy nghĩ. Không bao giờ, nếu chúng ta muốn nói về các xã hội nguyên thủy, chúng ta phải sử dụng từ ngữ và các khái niệm từ đó để làm diều này. Các hướng dẫn liệt kê cung cấp một khuôn mẫu tốt để giúp sắp xếp tư duy của chúng ta.

 

Dịch bởi: Le Nguyen Thanh Tam 

bài viết đặc sắc trong tháng 06/2019

IELTS Reader - Ứng dụng thực hành đọc trong 1 phút 

IELTS Reader được biên soạn theo hướng thực hành chuyên biệt cho từng loại câu hỏi và phù hợp cho cả 2 nhóm thí sinh khi đăng ký vào chương trình IELTS: Học thuật (Academic) và Phổ thông (General). 

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục