Tin song ngữ

  1. Tin tức song ngữ Anh-Việt
  2. Khoa học - Công nghệ
  3. Khoa học - Nghiên cứu
  4. Rong biển ở New Zealand

Rong biển ở New Zealand

17/01/2019
Mức căn bản

New Zealand Seaweed

Call us not weeds; we are flowers of the sea.

Seaweed is a particularly nutritious food, which absorbs and concentrates traces of a wide variety of minerals necessary to the body’s health.

Many elements may occur in seaweed – aluminium, barium, calcium, chlorine, copper, iodine and iron, to name but a few – traces normally produced by erosion and carried to the seaweed beds by river and sea currents.

Seaweeds are also rich in vita-mins: indeed, Eskimos obtain a high proportion of their bodily requirements of vitamin C from the seaweeds they eat.

The nutritive value of seaweed has long been recognised.

For instance, there is a remarkably low incidence of goitre amongst the Japanese, and for that matter, , amongst our own Maori people, who have always eaten seaweeds, and this may well be attributed to the high iodine content of this food.

Research into old Maori eating customs shows that jellies were made using seaweeds, fresh fruit and nuts, fuchsia and tutu berries, cape gooseberries, and many other fruits which either grew here naturally or were sown from seeds brought by settlers and explorers.

New Zealand lays claim to approximately 700 species of seaweed, some of which have no representation outside this country.

Of several species grown worldwide, New Zealand also has a particularly large share.

For example, it is estimated that New Zealand has some 30 species of Gigartina, a close relative of carrageen or Irish moss.

These are often referred to as the New Zealand carrageens.

The gel-forming substance called agar which can be extracted from this species gives them great commercial application in seameal, from which seameal custard is made, and in cough mixture , confectionery, cosmetics, the canning, paint and leather industries, the manufacture of duplicating pads, and in toothpaste.

In fact, during World War II, New Zealand Gigartina were sent to Australia to be used in toothpaste.

Yet although New Zealand has so much of the commercially profitable red sea-weeds, several of which are a source of agar (Pterocladia, Gelidium, Chondrus, Gigartina), before 1940 relatively little use was made of them.

New Zealand used to import the Northern Hemisphere Irish moss (Chondrus crispus) from England and ready-made agar from Japan.

Although distribution of the Gigartina is confined to certain areas according to species, it is only on the east coast of the North Island that its occurrence is rare.

And even then, the east coast, and the area around Hokiangna, have a considerable supply of the two species of Pterocladia from which agar is also available.

Happily, New Zealand-made agar is now obtainable in health food shops.

Seaweeds are divided into three classes determined by colour – red, brown and green – and each tends to live in a specific location.

However, except for the unmistakable sea lettuce (Ulva), few are totally one colour; and especially when dry, some species can change colour quite significantly – a brown one may turn quite black, or a red one appear black, brown, pink or purple.

Identification is nevertheless facilitated by the fact that the factors which determine where a seaweed will grow are quite precise, and they therefore tend to occur in very well-defined zones.

Although there are exceptions, the green seaweeds are mainly shallow-water algae; the browns belong to medium depths, and the reds are plants of the deeper water.

Flat rock surfaces near mid-level tides are the most usual habitat of sea bombs, Venus’ necklace and most brown seaweeds.

This is also the location of the purple laver or Maori karengo, which looks rather like a reddish-purple lettuce.

Deep-water rocks on open coasts, exposed only at very low tide, are usually the site of bull kelp, strap weeds and similar tough specimens.

Those species able to resist long periods of exposure to the sun and air are usually found on the upper shore, while those less able to stand such exposure occur nearer to or below the low-water mark.

Radiation from the sun, the temperature level, and the length of time immersed all play a part in the zoning of seaweeds.

None have roots in the usual sense; few have leaves, and none have flowers, fruits or seeds.

Propagation of seaweeds occurs by spores, or by fertilisation of egg cells.

The plants absorb their nourishment through their fronds when they are surrounded by water: the base or “holdfast” of seaweeds is purely an attaching organ, not an absorbing one.

Some of the large seaweeds maintain buoyancy with air-filled floats; others, such as bull kelp, have large cells filled with air.

Some, which spend a good part of their time exposed to the air, often reduce dehydration either by having swollen stems that contain water, or they may (like Venus’ necklace) have | swollen nodules, or they may have distinctive shape like a sea bomb.

Others, like the sea cactus, are filled with slimy fluid or have coating of mucilage on % the surface.

In some of the larger kelps, this coating is not only to keep the plant moist but also to protect it from the violent action of waves.

Source: IELTS Reading Test

 

Rong biển ở New Zealand

Đừng gọi chúng tôi là cỏ dại, hãy gọi chúng tôi là hoa của biển.

Rong biển là thực phẩm đặc biệt bổ dưỡng, nó hấp thụ và tập trung lượng nhỏ của nhiều loại khoáng chất cần thiết cho cơ thể người.

Nhiều nguyên tố có thể tìm thấy trong rong biển như nhôm, bari, canxi, clo, đồng, iot và sắt và một số nguyên tố khác- những dấu vết thường do xói mòn gây ra và mang theo rong biển bởi các dòng sông và nước biển.

Rong biển cũng rất giàu vitamin: thực vậy, người Eskimo hấp thụ một tỷ lệ cao nhu cầu cơ thể về lượng vitamin C từ rong biển mà họ ăn.

Giá trị dinh dưỡng của rong biển từ lâu đã được ghi nhận.

Ví dụ, Nhật Bản có một tỉ lệ bướu cổ thấp đáng kể, và điều đó cũng diễn ra với những người Maori, những người thường xuyên ăn rong biển, và điều này có thể do hàm lượng iot cao trong loại thức ăn này.

Nghiên cứu về phong tục ăn uống của người Maori cổ cho thấy thạch mà họ ăn được làm từ rong biển, hoa quả tươi và các loại hạt, hoa lồng đèn, quả mọng, quả anh đào đất, và nhiều loại trái cây khác, mà những loại trái này phát triển tự nhiên hoặc được gieo trồng từ hạt do người định cư và các nhà thám hiểm mang về.

New Zealand xác nhận là có khoảng 700 loài rong biển, một số trong số đó không thể tìm thấy bên ngoài nước này.

Trong số các loài rong biển được trồng trên toàn thế giới thì New Zealand cũng chiếm một lượng đặc biệt lớn.

Ví dụ, người ta ước tính rằng New Zealand có khoảng 30 loài Gigartina, một họ hàng gần của carrageen hoặc rêu Ailen.

Chúng thường được gọi là carrageen New Zealand.

Chất tạo gel gọi là thạch trắng có thể chiết xuất từ ​​loài này cho phép chúng có ứng dụng thương mại tuyệt vời trong các sản phẩm gia vị, từ đó có thể sản xuất sữa trứng, trong hỗn hợp ho, bánh kẹo, mỹ phẩm, đồ hộp, sơn và ngành công nghiệp da, sản miếng đệm nhân bản và có trong kem đánh răng.

Thực tế, trong suốt Thế chiến thứ II, Gigartina New Zealand đã được gửi đến Úc để được sử dụng trong kem đánh răng.

Tuy nhiên, mặc dù New Zealand đã có rất nhiều lợi nhuận thương mại từ rong biển đỏ, một vài trong số đó là từ nguồn thạch trắng (Pterocladia, Gelidium, Chondrus, Gigartina), nhưng trước năm 1940 có tương đối ít đồ dùng được làm bằng chúng.

New Zealand đã từng nhập khẩu rêu thuộc bán đảo Bắc Ailen (Chondrus crispus) từ Anh Quốc và thạch làm sẵn từ Nhật Bản.

Mặc dù phân bố của Gigartina bị giới hạn trong một số khu vực theo từng loài, nó chỉ có ở bờ biển phía đông của đảo Bắc và sự xuất hiện của nó là rất hiếm.

Mặc dù thế, ở bờ biển phía đông và khu vực xung quanh Hokiangna cũng có nguồn cung đáng kể của hai loài Pterocladia, và nhờ đó thạch cũng có sẵn.

Điều may mắn là thạch tại New Zealand bây giờ đã có thể tìm thấy tại các cửa hàng hàng thực phẩm cho sức khỏe.

Rong biển được chia thành ba lớp được xác định bởi màu sắc – đỏ, nâu và xanh lá cây – và mỗi loại có xu hướng sống ở một địa điểm cụ thể.

Tuy nhiên, ngoại trừ rau diếp biển (Ulva) không thể nhầm lẫn, rất ít loại rong biển có một màu hoàn toàn; đặc biệt là khi khô, một số loài có thể thay đổi màu sắc đáng chú ý – rong biển màu nâu có thể chuyển sang màu đen, hoặc rong biển màu đỏ xuất hiện màu đen, nâu, hồng hoặc tím.

Việc xác định được tạo điều kiện thuận lợi bởi thực tế là các yếu tố xác định nơi mà rong biển phát triển là khá chính xác, và do đó chúng có khuynh hướng diễn ra ở các vùng rất rõ ràng.

Mặc dù có những trường hợp ngoại lệ,các loài rong biển xanh chủ yếu là tảo nước nông; rong biển nâu thuộc về độ sâu trung bình, và rong biển màu đỏ là những loài thực vật ở dưới sâu hơn.

Những viên đá có bề mặt phẳng gần mực nước trung bình thường là môi trường sống phổ biến nhất của bom biển, chuỗi hạt Venus và hầu hết các loài rong biển màu nâu.

Đây cũng là nơi sống của cây laver màu tím hoặc karengo của người Maori, trông khá giống với rau diếp đỏ tím.

Các tảng đá nước sâu trên các bờ biển mở, chỉ tiếp xúc khi thủy triều rất thấp, thường là khu vực của tảo bẹ, cỏ dại và các mẫu vật tương tự.

Những loài có khả năng chịu được thời gian tiếp xúc lâu dài với ánh nắng mặt trời và không khí thường được tìm thấy ở bờ biển trên cao, trong khi những loài ít chịu được sự tiếp xúc như thế thường tìm thấy ở gần hơn hoặc ở dưới mực nước thấp.

Sự bức xạ từ mặt trời, nhiệt độ, và thời gian ngâm mình đều đóng vai trò trong việc phân vùng rong biển.

Sự sinh sôi nảy nở của rong biển diễn ra nhờ bào tử, hoặc nhờ sự thụ tinh của tế bào trứng.

Thông thường không có rễ; ít lá, và không có hoa, quả hay hạt.

Thực vật hấp thụ thức ăn của chúng thông qua lá khi chúng được bao quanh bởi nước: nền tảng hay là “cấu trúc chặt chẽ” của rong biển hoàn toàn là một cơ quan gắn kết, chứ không phải là một phần hấp thụ.

Một số loài rong biển lớn giữ sự nổi bằng những chiếc bong bóng chứa không khí; những loại khác, như tảo bẹ bò, có những tế bào lớn chứa đầy không khí.

Một số loại khác dành một phần thời gian của chúng để tiếp xúc với không khí, thường làm giảm sự mất nước bằng cách phình to phần thân có chứa nước, hoặc chúng có thể (như chuỗi hạt của Venus) có những mắt nhỏ phình lên, hoặc chúng có thể có hình dạng đặc biệt giống như bom biển.

Những loài khác như cây xương rồng biển, chứa đầy chất dịch nhầy hoặc có lớp chất nhầy trên phần trăm bề mặt.

Trong một số loại rong (tảo) bẹ kích thước lớn hơn, lớp nhầy này không chỉ để cho cây giữ độ ẩm mà còn để bảo vệ nó khỏi sự mãnh liệt của những con sóng.

 

Dịch bởi: Trang Huyền

bài viết đặc sắc trong tháng 05/2019

IELTS Reader - Ứng dụng thực hành đọc trong 1 phút 

IELTS Reader được biên soạn theo hướng thực hành chuyên biệt cho từng loại câu hỏi và phù hợp cho cả 2 nhóm thí sinh khi đăng ký vào chương trình IELTS: Học thuật (Academic) và Phổ thông (General). 

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục