Tin song ngữ

  1. Tin tức song ngữ Anh-Việt
  2. Thời sự
  3. Giải trí
  4. Sự giao tiếp của loài voi

Sự giao tiếp của loài voi

18/12/2018
Mức nâng cao

Elephant Communication

O’Connell-Rodwell, a postdoctoral fellow at Stanford University, has travelled to Namibia’s first-ever wildlife reserve to explore the mystical and complicated realm of elephant communication.

She, along with her colleagues, is part of a scientific revolution that started almost 20 years ago.

This revolution has made a stunning revelation: elephants are capable of communicating with each other over long distances with low-frequency sounds, also known as infrasounds, which are too deep for humans to hear.

As might be expected, African elephants able to detect seismic sound may have something to do with their ears.

The hammer bone in an elephant’s inner ear is proportionally huge for a mammal, but it is rather normal for animals that use vibrational signals.

Thus, it may be a sign that suggests elephants can use seismic sounds to communicate.

Other aspects of elephant anatomy also support that ability.

First, their massive bodies, which enable them to give out low-frequency sounds almost as powerful as the sound a jet makes during takeoff, serve as ideal frames for receiving ground vibrations and transmitting them to the inner ear.

Second, the elephant’s toe bones are set on a fatty pad, which might be of help when focusing vibrations from the ground into the bone.

Finally, the elephant has an enormous brain that sits in the cranial cavity behind the eyes in line with the auditory canal.

The front of the skull is riddled with sinus cavities, which might function as resonating chambers for ground vibrations.

It remains unclear how the elephants detect such vibrations, but O’Connell-Rodwell raises a point that the pachyderms are ‘listening’ with their trunks and feet instead of their ears.

The elephant trunk may just be the most versatile appendage in nature. Its utilisation encompasses drinking, bathing, smelling, feeding and scratching.

Both trunk and feet contain two types of nerve endings that are sensitive to pressure—one detects infrasonic vibration, and another responds to vibrations higher in frequencies.

As O’Connell-Rodwell sees, this research has a boundless and unpredictable future.

‘Our work is really interfaced of geophysics, neurophysiology and ecology,’ she says.

‘We’re raising questions that have never even been considered before.’

It has been well-known to scientists that seismic communication is widely observed among small animals, such as spiders, scorpions, insects and quite a lot of vertebrate species like white-lipped frogs, blind mole rats, kangaroo rats and golden moles.

Nevertheless, O’Connell-Rodwell first argued that a giant land animal is also sending and receiving seismic signals.

‘I used to lay a male planthopper on a stem and replay the calling sound of a female, and then the male one would exhibit the same kind of behaviour that happens in elephants—he would freeze, then press down on his legs, move forward a little, then stay still again.

I find it so fascinating, and it got me thinking that perhaps auditory communication is not the only thing that is going on. ’

Scientists have confirmed that an elephant’s capacity to communicate over long distance is essential for survival, especially in places like Etosha, where more than 2,400 savanna elephants range over a land bigger than New Jersey.

It, is already difficult for an elephant to find a mate in such a vast wild land, and the elephant reproductive biology only complicates it.

Breeding herds also adopt low-frequency sounds to send alerts regarding predators.

Even though grown-up elephants have no enemies else than human beings, baby elephants are vulnerable and are susceptible to lions and hyenas attack.

At the sight of a predator, older ones in the herd will clump together to form protection before running away.

We now know that elephants can respond to warning calls in the air, but can they detect signals transmitted solely through the ground?

To look into that matter, the research team designed an experiment in 2002, which used electronic devices that enabled them to give out signals through the ground at Mushara.

‘The outcomes of our 2002 study revealed that elephants could indeed sense warning signals through the ground,’ O’Connell-Rodwell observes.

Last year, an experiment was set up in the hope of solving that problem.

It used three different recordings—the 1994 warning call from Mushara, an anti-predator call recorded by scientist Joyce Poole in Kenya and a made-up warble tone.

‘The data I’ve observed to this point implies that the elephants were responding the way I always expected.

However, the fascinating finding is that the anti-predator call from Kenya, which is unfamiliar to them, caused them to gather around, tense up and rumble aggressively as well—but they didn’t always flee. I didn’t expect the results to be that clear-cut.”

Source: sciencedaily.com

Sự giao tiếp của loài voi

O’Connell-Rodwell, một nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ ở trường đại học Stanford, đã đi đến vùng hoang dã nhất từ trước cho đến nay ở Namibia để khám phá những điều huyền bí và phức tạp trong lĩnh vực về sự giao tiếp của loài voi.

 

Cô ấy cùng với đồng nghiệp của mình là một phần của một cuộc cách mạng khoa học đã bắt đầu gần 20 năm trước đây.

Cuộc cách mạng này đã tiết lộ đáng kinh ngạc rằng những con voi có khả năng giao tiếp với nhau ở khoảng cách xa với những âm thanh ở tần số thấp, cũng như được biết đến là hạ âm, âm thanh quá trầm để con người có thể nghe được.

Như mong đợi, những con voi ở châu Phi có thể phát hiện âm thanh địa chấn có thể có vài thứ liên quan đến đôi tai của chúng.

Xương búa trong tai của con voi thì rất lớn một cách cân đối bởi vì nó là động vật có vú, nhưng nó khá bình thường so với những động vật mà sử dụng những tín hiệu rung lắc.

Do đó, có thể là một tín hiệu khi mà những con voi có thể sử dụng những âm thanh rung lắc để giao tiếp.

Một khía cạnh khác về hình thái học của loài voi cũng ủng hộ khả năng đó.

Đầu tiên, cơ thể to lớn của chúng, giúp chúng phát ra những âm thanh có tần số thấp mạnh mẽ như âm thanh của chiếc máy bay phản lực trong suốt quá trình cất cánh, phục vụ như những hệ thống lý tưởng cho việc nhận những âm thanh rung lắc từ mặt đất và chuyển chúng vào bên trong tai của con voi.

Thứ hai, xương ngón chân của voi được đặt trên một khối mỡ sau bánh chè, cái mà có thể giúp đỡ khi tập trung vào sự rung lắc từ mặt đất vào trong xương.

Cuối cùng, loài voi có một bộ não rất lớn ở trong ổ sọ phía sau cặp mắt cùng hàng với ống tai.

Phía trước của sọ được nối với ổ xoang, có chức năng như buồng cộng hưởng cho sự rung lắc của mặt đất.

Nó vẫn còn chưa rõ ràng về cách mà loài voi phát hiện sự rung lắc, nhưng O’Connell-Rodwell nêu lên một quan điểm rằng loài voi đang “lắng nghe” với cái vòi và bàn chân của chúng thay vì là đôi tai.

Vòi voi có thể chỉ là phần phụ linh hoạt nhất trong tự nhiên. Sự tiện lợi của nó bao gồm uống nước, tắm, ngửi và gãi.

Cả vòi và bàn chân gồm 2 đoạn cuối của dây thần kinh cái mà nhạy cảm với áp lực – phát hiện hạ âm, và những phản hồi khác đối với siêu âm.

Như O’Connell-Rodwell thấy, nghiên cứu này có một tương lai vô hạn và không thể đoán được.

Cô ấy nói: “Công việc của chúng ta thực sự là cái chung của địa vật lý, sinh lý thần kinh và sinh thái học”.

“Chúng ta đặt ra những câu hỏi mà chưa từng được xem xét trước đó”.

Nó được biết đến nhiều đối với những nhà khoa học rằng sự giao tiếp địa chấn được quan sát một cách rộng rãi giữa những loài động vật bé nhỏ, như nhện, bọ cạp,những loài côn trùng và nhiều loài động vật có xương sống, như ếch môi trắng, chuột chũi, kangaroo và những loài chuột chũi màu vàng.

Tuy nhiên, O’Connell-Rodwell lần đầu tiên tranh luận rằng một động vật khổng lồ sống trên mặt đất cũng sẽ phát đi và nhận lại những tín hiệu địa chấn.

“Tôi đã từng bố trí một con rầy đực trên thân cây và phát lại âm thanh của rầy cái, sao đó con đực sẽ bày tỏ nhiều hành động tương tự xảy ra ở loài voi – con đực sẽ đóng băng, sau đó nhấn chân xuống, di chuyển về phía trước một chút, và sau đó giữ lại trạng thái đó lần nữa.

Tôi nhận thấy nó thật hấp dẫn, và điều đó khiến tôi suy nghĩ rằng có lẽ sự giao tiếp về thính giác không phải là thứ duy nhất đang xảy ra.

Những nhà khoa học đã xác nhận rằng khả năng giao tiếp của một con voi ở khoảng cách xa là cần thiết cho sự sinh tồn của nó, đặc biệt là ở những nơi như Etosha, nơi mà có hơn 2400 loài voi Xavan trên một vùng đất rộng lớn hơn New Jersey.

Thật khó khăn cho một con voi để tìm thấy bạn đời ở một vùng đất hoang dã rộng lớn như thế này, và chỉ việc sinh sản ở loài voi mới có thể gây rắc rối cho nó.

Việc nuôi dưỡng theo bầy đàn cũng thông qua những âm thanh có tần số thấp để gửi đi những cảnh báo liên quan đến những con thú ăn thịt.

Mặc dù những con voi trưởng thành không có kẻ thù nào khác ngoài con người, những con voi sơ sinh dễ bị tổn thương đối với những cuộc tấn công của linh cẩu và sư tử.

Trong tầm ngắm của một con thú ăn thịt, những con lớn tuổi trong bầy đàn sẽ gắn kết lại với nhau để tạo nên sự bảo vệ trước khi chạy khỏi con mồi.

Ngày nay chúng ta biết rằng loài voi có thể phản hồi với những tiếng gọi cảnh báo trong không khí, nhưng liệu chúng có thể phát hiện những tín hiệu được truyền đi duy nhất thông qua mặt đất hay không?

Để tìm hiểu vấn đề đó, nhóm nghiên cứu đã thiết kế một thí nghiệm vào năm 2002, thí nghiệm này đã sử dụng những thiết bị điện giúp chúng phát ra những tín hiệu thông qua mặt đất ở Mushara.

“Kết quả của nghiên cứu vào năm 2002 của chúng tôi đã tiết lộ rằng loài voi thật sự có thể có cảm giác với những tín hiệu cảnh báo thông qua mặt đất” O’Connell-Rodwell quan sát cho thấy.

Năm vừa rồi, một thí nghiệm được thực hiện với hy vọng là giải quyết vấn đề đó.

Nó đã sử dụng 3 bản ghi âm khác nhau - tiếng gọi cảnh báo năm 1994 từ Mushara, tiếng động chống thú ăn thịt của đã được ghi lại bởi nhà khoa học Joyce Poole ở Kenya và tiếng chim hót líu lo.

“Dữ liệu mà chúng tôi đã quan sát cho điểm này đã chỉ ra rằng loài voi đã phản hồi lại theo cách mà tôi đã luôn mong đợi”

Tuy nhiên, nghiên cứu thú vị là tiếng động chống thú ăn thịt từ Kenya, không quen thuộc với chúng, đã làm cho chúng tập hợp, căng thẳng cũng như quát tháo một cách hung hăng – nhưng chúng không lẩn tránh. Tôi không hy vọng những kết quả lại rõ ràng như thế”.

Dịch bởi: Huỳnh Vũ Luân

bài viết đặc sắc trong tháng 10/2019

IELTS Reader - Ứng dụng thực hành đọc trong 1 phút 

IELTS Reader được biên soạn theo hướng thực hành chuyên biệt cho từng loại câu hỏi và phù hợp cho cả 2 nhóm thí sinh khi đăng ký vào chương trình IELTS: Học thuật (Academic) và Phổ thông (General). 

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục