Tin song ngữ

  1. Tin tức song ngữ Anh-Việt
  2. Khoa học - Công nghệ
  3. Khoa học - Nghiên cứu
  4. Sự phát triển của các viện tảo tàng

Sự phát triển của các viện tảo tàng

13/08/2018
Mức trung cấp

The Development of Museums

The conviction that historical relics provide infallible testimony about the past is rooted in the nineteenth and early twentieth centuries, when science was regarded as objective and value free. As one writer observes: 'Although it is now evident that artefacts are as easily altered as chronicles, public faith in their veracity endures: a tangible relic seems ipso facto real.' Such conviction was, until recently, reflected in museum displays. Museums used to look - and some still do - much like storage rooms of objects packed together in showcases: good for scholars who wanted to study the subtle differences in design, but not for the ordinary visitor, to whom it all looked alike. Similarly, the information accompanying the objects often made little sense to the lay visitor. The content and format of explanations dated back to a time when the museum was the exclusive domain of the scientific researcher.

Recently, however, attitudes towards history and the way it should be presented have altered. The key word in heritage display is now 'experience', the more exciting the better and, if possible, involving all the senses. Good examples of this approach in the UK are the Jorvik Centre in York; the National Museum of Photography, Film and Television in Bradford; and the Imperial War Museum in London. In the US the trend emerged much earlier: Williamsburg has been a prototype for many heritage developments in other parts of the world. No one can predict where the process will end. On so-called heritage sites the re-enactment of historical events is increasingly popular, and computers will soon provide virtual reality experiences, which will present visitors with a vivid image of the period of their choice, in which they themselves can act as if part of the historical environment. Such developments have been criticised as an intolerable vulgarisation, but the success of many historical theme parks and similar locations suggests that the majority of the public does not share this opinion.

In a related development, the sharp distinction between museum and heritage sites on the one hand, and theme parks on the other, is gradually evaporating. They already borrow ideas and concepts from one another. For example, museums have adopted story lines for exhibitions, sites have accepted 'theming'as a relevant tool, and theme parks are moving towards more authenticity and research-based presentations. In zoos, animals are no longer kept in cages, but in great spaces, either in the open air or in enormous greenhouses, such as the jungle and desert environments in Burgers'Zoo in Holland. This particular trend is regarded as one of the major developments in the presentation of natural history in the twentieth century.

Theme parks are undergoing other changes, too, as they try to present more serious social and cultural issues, and move away from fantasy. This development is a response to market forces and, although museums and heritage sites have a special, rather distinct, role to fulfil, they are also operating in a very competitive environment, where visitors make choices on how and where to spend their free time. Heritage and museum experts do not have to invent stories and recreate historical environments to attract their visitors: their assets are already in place. However, exhibits must be both based on artefacts and facts as we know them, and attractively presented. Those who are professionally engaged in the art of interpreting history are thus in a difficult position, as they must steer a narrow course between the demands of 'evidence' and 'attractiveness', especially given the increasing need in the heritage industry for income-generating activities.

It could be claimed that in order to make everything in heritage more 'real', historical accuracy must be increasingly altered. For example, Pithecanthropus erectus is depicted in an Indonesian museum with Malay facial features, because this corresponds to public perceptions. Similarly, in the Museum of Natural History in Washington, Neanderthal man is shown making a dominant gesture to his wife. Such presentations tell us more about contemporary perceptions of the world than about our ancestors. There is one compensation, however, for the professionals who make these interpretations: if they did not provide the interpretation, visitors would do it for themselves, based on their own ideas, misconceptions and prejudices. And no matter how exciting the result, it would contain a lot more bias than the presentations provided by experts.

Human bias is inevitable, but another source of bias in the representation of history has to do with the transitory nature of the materials themselves. The simple fact is that not everything from history survives the historical process. Castles, palaces and cathedrals have a longer lifespan than the dwellings of ordinary people. The same applies to the furnishings and other contents of the premises. In a town like Leyden in Holland, which in the seventeenth century was occupied by approximately the same number of inhabitants as today, people lived within the walled town, an area more than five times smaller than modern Leyden. In most of the houses several families lived together in circumstances beyond our imagination. Yet in museums, fine period rooms give only an image of the lifestyle of the upper class of that era. No wonder that people who stroll around exhibitions are filled with nostalgia; the evidence in museums indicates that life was so much better in the past. This notion is induced by the bias in its representation in museums and heritage centres.

Source: Cambridge IELTS 9

 

 

Sự phát triển của các viện tảo tàng

Niềm tin mãnh liệt rằng các di tích lịch sử cung cấp những chứng cứ không thể sai về quá khứ được bắt nguồn từ thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, khi khoa học được coi là mục tiêu và giá trị tự do. ’ Như một nhà văn đã quan sát cho biết: ‘Mặc dù bây giờ rõ ràng rằng các đồ tạo tác như biên niên sử, những niềm tin công chúng trong vào tính xác thực của những sự chịu đựng của họ: những dấu tích rõ ràng có vẻ như ipso facto là thật. Niềm tin mãnh liệt như vậy, cho đến gần đây, được phản ánh trong các trưng bày của bảo tàng. Như một số vẫn làm thì những bảo tàng đã từng được xem như là những phòng lưu trữ các vật thể được đóng gói cùng nhau trong các cuộc trưng bày: việc này tốt cho các học giả - những người muốn nghiên cứu sự khác biệt tinh tế trong các thiết kế, nhưng không cho những người thăm bình thường khi chúng ta xem tất cả chúng đều giống như nhau. Một cách tương tự, những thông tin đi cùng các đồ vật thường được cho là có rất ít ý nghĩa cho những người thăm không chuyên môn. Việc giải thích về nội dung và hình thức chỉ thịnh thành vào thời khi Viện bảo tàng được xem là phạm vi độc quyền của các nhà nghiên cứu khoa học. 

Tuy nhiên, mới đây, những thái độ đối với lịch sử và cách thức nó được trình bày đã thay đổi. Từ khóa trong sự trưng bày các di sản này bây giờ là ‘trải nghiệm’, ngày càng thú vị và tốt đẹp hơn, nếu có thể, liên quan đến tất cả các giác quan. Ví dụ điển hình của phương pháp này ở Anh là trung tâm Jorvik tại York; Bảo tàng Nhiếp ảnh Quốc gia, Phim và Truyền hình ở Bradford; Bảo tàng Chiến tranh Đế quốc ở London. Tại Anh xu hướng này nổi lên sớm hơn nhiều: Williamsburg là hình mẫu đầu tiên cho nhiều phát triển di sản trong các phần của thế giới. Không ai có thể dự đoán nơi nào quá trình sẽ kết thúc. Trên cái gọi là khu di tích ban hành lại các sự kiện lịch sử phổ biến nhanh chóng, và các máy tính sẽ nhanh chóng cung cấp các trải nghiệm thực tế, nó sẽ trình bày cho người tham quan với những hình ảnh sống động của các giai đoạn lựa chọn của họ, nơi mà bản thân họ có thể hành động như một phần của môi trường lịch sử. Những sự phát triển như vậy đã bị chỉ trích như một sự phổ biến hoá không thể chấp nhận được, nhưng thành công của nhiều công viên chủ đề lịch sử và những địa điểm tương tự cho thấy rằng việc phần lớn quần chúng không đồng tình với ý kiến này. 

Trong một phát triển có liên quan, một mặt sự khác biệt rõ rệt giữa bảo tàng và khu di tích và một mặt khác là các công viên theo chủ đề, đang dần tan biến. Họ đã mượn ý tưởng và khái niệm từ một nơi khác. Ví dụ, các bảo tàng đã đã thông qua dãy các câu chuyện từ cuộc triển lãm, các địa điểm đã chấp nhận ‘theming’ như một công cụ thích hợp, và các công viên theo chủ đề đang chuyển hướng tới những bài thuyết trình dựa trên nghiên cứu và tính xác thực. Trong các vườn thú, các động vật không bị giữ lâu hơn trong lồng, mà trong không gian tuyệt vời, ở ngoài trời hay trong những nhà kính khổng lồ, như môi trường rừng nhiệt đới và sa mạc tại các vườn thú Burger tại Hà Lan. Xu hướng thực tế được xem là một trong những phát triển quan trọng trong bài trình bày về lịch sử thiên nhiên trong thế kỉ 20. 

Cũng như vậy, những công viên theo chủ đề đang trải qua những thay đổi khác, trong nỗ lực trình bày các vấn đề nghiêm trọng về văn hóa và xã hội, và rời xa khỏi trí tưởng tượng. Sự phát triển này là một phản ứng tới sức mạnh thị trường và, mặc dù các bảo tàng và khu di tích có một sựu đặc biệt, đúng hơn là sựu khác biệt, có vai trò thực hiện, chúng cũng đang hoạt động trong một môi trường cạnh tranh khắc nghiệt, nơi mà những người tham quan tạo ra những lựa chọn về cách thức và địa điểm để dùng thời gian rãnh của họ. Những chuyên gia về di sản và bảo tàng không phải phát minh ra những câu chuyện và tái tạo những môi trường lịch sử để thu hút khách tham quan của họ: các tài sản của họ đã đặt tại đó. Tuy nhiên, các vật trưng bày đều phải dựa vào các vật tạo tác và sự thực như chúng ta biết về chúng và trình bày một cách thu hút. Do đó, những người chuyên nghiệp đã thành công trong nghệ thuật của lịch sử diễn giải, trong một hoàn cảnh khó khăn, họ phải hướng đến một hướng đi hạn hẹp giữa những yêu cầu của ‘bằng chứng’ và ‘sự thu hút’, đặc biệt cho các nhu cầu ngày càng tăng cần thiết trong ngành công nghiệp di sản cho các hoạt động tạo doanh thu. 

Người ta có thể cho rằng để tạo nên mọi thứ trong di sản thực tế hơn thì sự chính xác của lịch sử phải được thay đổi một cách nhanh chóng. Ví dụ, Pithecanthropus erectus được mô tả trong một bảo tàng Indonesia với những đặc điểm khuôn mặt của người Malay, bởi vì điều này tương ứng với nhận thức của công chúng. Một cách tương tự, trong Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên tại Washington, người đàn ông Nepan được hiển thị với một cử chỉ ưu thế tới vợ của ông ta. Những cách trình bày như vậy nói cho chúng ta nhiều hơn về những nhận thức đương thời của thế giới hơn là liên quan đến tổ tiên của chúng ta. Tuy nhiên, có một sự đền bù cho các chuyên gia tạo nên những những giải thích đó là nếu họ không cung cấp các lời giải thích thì những người tham quan sẽ phải tự làm, dựa trên những ý kiến riêng, những nhận thức sai lầm và những thành kiến của chính họ. Và dù kết quả thì thú vị như thế nào, nó cũng sẽ chứa đựng nhiều thành kiến hơn những bài trình bày cung cấp bởi các chuyên gia. 

Khuynh con người là không thể tránh khỏi, nhưng những nguồn khuynh hướng khác trong những đại diện của lịch sử phải được thực hiện với những nguồn thiên nhiên tạm thời của bản thân chất liệu của chúng. Sự thực đơn giản là không phải mọi thứ từ lịch sử có thể cứu sống quá trình lịch sử. Những lâu đài, cung điện, và nhà thờ có tuổi thọ lâu hơn là các ngôi nhà của những người bình thường. Điều tương tự cũng áp dụng cho các đồ đạc và các nội dung khác của các tòa nhà. Trong tòa nhà như Leyden ở Hà Lan, trong thế kỉ 17 đã được sử dụng bởi số lượng dân số xấp sỉ như ngày nay, những người đã sống trong thị trấn có tường bao quanh, một diện tích nhỏ hơn 5 lần Leyden hiện đại. Trong hầu hết các ngôi nhà một vài gia đình đã sống cùng nhau trong những hoàn cảnh ngoài sức tưởng tượng. Tuy nhiên trong những bảo tàng, những phòng thời kì tốt chỉ cho chúng ta thấy hình ảnh của phong cách sống của tầng lớp thượng lưu trong thời kì đó. Không có gì ngạc nhiên rằng con người đi xung quanh các buổi triển lãm bị lấp đầy nỗi nhớ quê hương, chứng cứ này trong những bảo tàng ám chỉ rằng cuộc sống đã tốt hơn rất nhiều trong quá khứ. Khái niệm này đã gây ra bởi sự thiên vị trong việc thể hiện ở các bảo tàng và các trung tâm di sản. 

 

Dịch bởi: Ngô Thị Loan

bài viết đặc sắc trong tháng 09/2018

Khai giảng lớp học luyện thi IELTS cấp tốc học Full Time | Download Lộ trình học Miễn Phí

Lớp học luyện thi đầy đủ 4 kỹ năng Nghe-Nói-Đọc-Viết để chuẩn bị cho kỳ thi IELTS vào khoảng tháng 8 và tháng 11 sẽ được khai giảng ngay trong tháng 5 năm 2018 với sự dẫn dắt trực tiếp…

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục