Tin song ngữ

  1. Tin tức song ngữ Anh-Việt
  2. Khoa học - Công nghệ
  3. Khoa học - Nghiên cứu
  4. Tìm hiểu về loài Mala (Rufous Hare-Wallaby)

Tìm hiểu về loài Mala (Rufous Hare-Wallaby)

01/11/2016
Mức trung cấp

Rufous Hare-Wallaby 

During the 1950s it was thought that the mala was extinct.  But in 1964, a small colony was found in the Tanami Desert and 12 years later, a second small colony was found nearby. Very extensive surveys were made throughout historical mala range - but no other traces were found.

Throughout the 1970s and 1980s, scientists monitored these two populations. At first it seemed that they were holding their own. Then in late 1987, every one of the individuals of the second and smaller of the wild colonies was killed. From examination of the tracks in the sand, it seemed that just one single fox had been responsible. And then, in October 1991, a wild-fire destroyed the entire area occupied by the remaining colony. Thus the mala was finally pronounced extinct in the wild.

Fortunately, ten years earlier, seven individuals had been captured, and had become the founders of a captive breeding programme and that group had thrived. Part of this success is due to the fact that the female can breed when she is just five months old and can produce up to three young a year. Like other kangaroo species, the mother carries her young - known as a joey - in her pouch for about 15 weeks, and she can have more than one joey at the same time.

In the early 1980s, there were enough mala in the captive population to make it feasible to start a reintroduction programme. But first it was necessary to discuss this with the leaders of the Yapa people. Traditionally, the mala had been an important animal in their culture, with strong medicinal powers for old people. It had also been an important food source, and there were concerns that any mala returned to the wild would be killed for the pot. 

And so, in 1980, a group of key Yapa men was invited to visit the proposed reintroduction area. The skills and knowledge of the Yapa would play a significant and enduring role in this and all other mala projects. 

With the help of the local Yapa, an electric fence was erected around 250 acres of suitable habitat so that the mala could adapt while protected from predators. By 1992, there were about 150 mala in their enclosure. However, all attempts to reintroduce mala from the paddocks into the unfenced wild were unsuccessful, so in the end the reintroduction programme was abandoned. Scientists eventually gave up their efforts to release captive mala into the unprotected wild.

Thus, In 1993, a Mala Recovery Team was established to boost mala numbers, and goals for a new programme were set: the team concentrated on finding suitable predator-free or predator-controlled conservation sites within the mala’s known range. First, it had been necessary to rid the island of rats and cats - a task that had taken two years of hard work.

Each of the malas had been fitted with a radio collar that transmits for about 14 months, after which it falls off. The team was able to locate 29 out of the 30 transmitters - only one came from the collar of a mala that had died of unknown causes. So far the recovery programme had gone even better than expected.--> Scientists were satisfied with the initial results of the recovery programme.

Today, there are many signs suggesting that the mala population on the island is continuing to do well.

Source: IELTS Practice Tests Plus 3 (UNIVERSITY CAMBRIDGE)

Practice IELTS Reading Online on  ieltsonlinetests.com

 

Rufous Hare-Wallaby (tên gọi khác là Mala)

Những thập niên 50 người ta nghĩ rằng loài mala này đã bị tuyệt chủng. Nhưng vào năm 1964 người ta đã tìm thấy 1 nhóm nhỏ loài này ở Sa mạc Tanami, phía bắc nước Úc và 12 năm sau họ tìm được 1 nhóm thứ 2 gần đó.  Sau đó người ta đã tìm kiếm và khảo sát loài mala này trên diện rộng nhưng vẫn không tìm kiếm được dấu vết gì.

Mãi đến thập niên 70 và 80, các nhà khoa học mới nghiên cứu và theo dõi 2 nhóm này. Ban đầu các con mala này dường như bình thường nhưng cuối năm 1987 thì hầu như tất cả các con mala trong nhóm thứ 2 và một số con trong nhóm thả hoang dã đều bị giết. Qua theo dõi dấu vết trên cát thì người ta phát hiện ra nghi phạm là 1 con cáo. Vào tháng 10 năm 1991, 1 đám lửa tự nhiên đã phá huỷ toà bỏ khu vực sinh sống của đàn mala còn lại. Do đó cuối cùng mala được tuyên bố là bị tuyệt chủng trong thiên nhiên.

May mắn thay, 10 năm sau (2001), người ta bắt được 7 con mala và chúng đã trở thành đối tượng nghiên cứu trong 1 chương trình nuôi nhốt nhằm duy trì nòi giống mala và kết quả là nhóm này đã được cứu và phát triển. Một phần thành công của việc này là nhờ 1 con mala cái có thể đẻ khi nó mới 5 tháng tuổi và nó có thể đẻ được đến 3 con con trong vòng 1 năm. Giống như các loài kangaroo khác thì con mẹ mang con nó trong 1 cái túi trong khoảng 2 tuần và con mẹ có thể đẻ nhiều con con 1 cùng 1 lúc.

Vào đầu thập niên 80 thì số lượng mala trong môi trường nuôi nhốt đã đủ để khởi động chương trình tái giới thiệu. Nhưng đầu tiên các nhà khoa học phải xin ý kiến với các tù trưởng của thổ dân Yapa vì theo truyền thống mala là con vật quan trọng trong văn hoá của họ. Nó vừa là nguồn thuốc quý cho người già, vừa là nguồn thực phẩm quan trọng nên có những quan ngại khi cho rằng nếu thả mala về tự nhiên thì nó sẽ bị săn bắn hết.

Do đó vào năm 1980, 1 nhóm người chủ chốt của thổ dân Yapa đã được mời tới khu vực tái giới thiệu được đề xuất này. Những người thổ dân Yapa này được rèn luyện kỹ năng và kiến thức về nuôi dưỡng thú mala đóng 1 vai trò quan trọng và lâu dài trong  các dự án về mala.

Và với sự giúp đỡ của cư dân địa phương Yapa mà 1 hàng rào điện đã được dựng nên xung quanh nơi sống thích hợp để các con mala có thể thích nghi khi được bảo vệ khỏi động vật ăn thịt. Vào năm 1992 thì có khoảng 150 con mala được nuôi nhốt. Tuy nhiên mọi nổ lực để đưa mala từ môi trường nuôi nhốt này trở lại môi trường thiên nhiên bị thất bại nên cuối cùng chương trình này bị tạm dừng.

Vào năm 1933, một nhóm nghiên cứu đã tìm cách nâng số lượng mala lên và thiết lập 1 chương trình mới là tìm những nơi phù hợp không có động vật ăn thịt hay các khu bảo tồn nơi động vật ăn thịt được kiểm soát. Ban đầu họ phải tìm cách đuổi và diệt hết chuột và mèo trên đảo. Công việc này phải mất 2 năm mới thực hiện xong.

Mỗi con mala sẽ được đeo 1 vòng cổ có tín hiệu có thể truyền tải  trong vòng 14 tháng (hơn 1 năm). Nhờ vậy mà nhóm nghiên cứu có thể xác định được vị trí  của 29 trong tổng số 30 con được gắn tín hiệu theo dõi này. Duy nhất 1 con bị giết mà không rõ nguyên nhân.  Nhờ vậy mà đến nay chương trình phục hồi mala đã thành công tốt đẹp hơn dự kiến.

Ngày nay nhiều dấu hiệu cho thấy số lượng mala trên đảo đã tiếp tục tăng đáng kể.

 

Dịch bởi: Khoa Phạm

Thực hành IELTS Reading Online và chấm điểm tại ieltsonlinetests.com

bài viết đặc sắc trong tháng 08/2017

Tặng tạp chí tiếng Anh Timeline cho các thành viên đọc báo song ngữ Anh-Việt

Mong muốn đem đến những giá trị cô đọng vào mùa xuân này đến cho tất cả các thành viên, những người bạn đồng hành một sản phẩm Tết rất độc đáo, đó là: Tạp chí tiếng Anh Timeline dành…

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục