Tin song ngữ

  1. Tin tức song ngữ Anh-Việt
  2. Khoa học - Công nghệ
  3. Công nghệ thông tin
  4. Tìm hiểu về World Wide Web từ những ngày đầu mà Tim Berners-Lee phát minh ra nó

Tìm hiểu về World Wide Web từ những ngày đầu mà Tim Berners-Lee phát minh ra nó

23/08/2016
Mức trung cấp

The World Wide Web from its origins

Science inspired the World Wide Web, and the Web has responded by changing science.

'Information Management: A Proposal'. That was the bland title of a document written in March 1989 by a then little- known computer scientist called Tim Berners-Lee, who was working at CERN, Europe's particle physics laboratory, near Geneva. His proposal, modestly called the World Wide Web, has achieved far more than anyone expected at the time. 

In fact, the Web was invented to deal with a specific problem. In the late 1980s, CERN was planning one of the most ambitious scientific projects ever, the Large Hadron Collider•, or LHC. As the first few lines of the original proposal put it, 'Many of the discussions of the future at CERN and the LHC end with the question "Yes, but how will we ever keep track of such a large project?" This proposal provides an answer to such questions.' 

The Web, as everyone now knows, has many more uses than the original idea of linking electronic documents about particle physics in laboratories around the world. But among all the changes it has brought about, from personal social networks to political campaigning, it has also transformed the business of doing science itself, as the man who invented it hoped it would. 

It allows journals to be published online and links to be made from one paper to another. It also permits professional scientists to recruit thousands of amateurs to give them a hand. One project of this type, called GalaxyZoo, used these unpaid workers to classify one million images of galaxies into various types (spiral, elliptical and irregular).

This project, which was intended to help astronomers understand how galaxies evolve, was so successful that a successor has now been launched, to classify the brightest quarter of a million of them in finer detail. People working for a more modest project called Herbaria@home examine scanned images of handwritten notes about old plants stored in British museums. This will allow them to track the changes in the distribution of species in response to climate change. 

Another new scientific application of the Web is to use it as an experimental laboratory. It is allowing social scientists, in particular, to do things that were previously impossible. In one project, scientists made observations about the sizes of human social networks using data from Facebook. A second investigation of these networks, produced by Bernardo Huberman of HP Labs, Hewlett-Packard's research arm in Palo Alto, California, looked at Twitter, a social networking website that allows people to post short messages to long lists of friends.

At first glance, the networks seemed enormous- the 300,000 Twitterers sampled had 80 friends each, on average (those on Facebook had 120), but some listed up to 1 ,000. Closer statistical inspection, however, revealed that the majority of the messages were directed at a few specific friends. This showed that an individual's active social network is far smaller than his 'clan'.

Dr Huberman has also helped uncover several laws of web surfing, including the number of times an average person will go from web page to web page on a given site before giving up, and the details of the 'winner takes all' phenomenon, whereby a few sites on a given subject attract most of the attention, and the rest get very little. 

Scientists have been good at using the Web to carry out research. However, they have not been so effective at employing the latest web-based social-networking tools to open up scientific discussion and encourage more effective collaboration. 

Journalists are now used to having their articles commented on by dozens of readers. Indeed, many bloggers develop and refine their essays as a result of these comments. Yet although people have tried to have scientific research reviewed in the same way, most researchers only accept reviews from a few anonymous experts. When Nature, one of the world's most respected scientific journals, experimented with open peer review in 2006, the results were disappointing.

Only 5% of the authors it spoke to agreed to have their article posted for review on the Web - and their instinct turned out to be right, because almost half of the papers attracted no comments. Michael Nielsen, an expert on quantum computers, belongs to a new wave of scientist bloggers who want to change this. He thinks the reason for the lack of comments is that potential reviewers lack incentive

Source: The Economist

 

 

Tìm hiểu về World Wide Web từ nguồn gốc của nó

Khoa học đã thúc đẩy World Wide Web, và ngược lại nền tảng Web đã tương tác ngược lại để phát triển khoa học.

'Một đề xuất: Quản lý thông tin' là tên của một tài liệu được viết vào tháng ba năm 1989 bởi một nhà vật lý chưa có tên tuổi là Tim Berners-Lee, người đang làm việc cho CERN trong thời điểm đó (CERN- là một phòng nghiên cứu về vật lý hạt nhân của Châu Âu, có trụ sở tại Geneva). Đề xuất của anh ấy với cách gọi giản dị là World Wide Web, đã đạt được nhiều thành tựu hơn bất kỳ ai khác trong thời điểm đó.

Thực ra, trang Web được phát minh ra để xử lý một vấn đề đề cụ thể. Vào những năm cuối 1980s, CERN đã lên kế hoạch cho một dự án khoa học tham vọng nhất từ trước tới bấy giờ, có tên gọi là LHC. Trong những dòng mô tả đầu tiên trong đề xuất của ông: 'Đã có nhiều cuộc thảo luận cho tương lai của CERN và LHC kết thúc với câu hỏi: "làm sao chúng ta có thể theo dõi được một dự án lớn như vậy" và đề xuất của anh ấy đã trả lời được cho câu hỏi đó.'

Trang Web mà mọi người biết đến như bây giờ có nhiều công dụng hơn so với ý tưởng ban đầu khi nó chỉ liên kết các tài liệu điện tử về vật lý hạt nhật ở các phòng thí nghiệm trên toàn thế giới. Nhưng tất cả những thay đổi mà nó đã mang lại từ mạng lưới liên kết xã hội cho tới những kế hoạch về chính trị, và nó đã thay đổi diện mạo của chính ngành khoa học đã tạo ra nó kể từ khi nó được phát minh.

Nó cho phép những bài báo được phát hành trực tuyến và những liên kết xâu chuỗi từ trang này tới trang khác. Nó cũng cho phép những nhà khóa học gạo cội tuyển dụng những nhà khoa học trẻ để giúp đỡ họ. Một trong số những dự án như vậy có tên gọi là Galaxy Zoo, được sử dụng bởi rất nhiều người tình nguyện tham gia mà không cần lương để xác định hàng triệu tấm ảnh chụp về dải thiên hà với nhiều hình dạng khác nhau (xoắn ốc, elip hay một kiểu bất thường nào đó)

Dự án này từ khi được phát minh đã giúp những nhà du hành không gian hiểu dải thiên hà bao gồm những thứ gì và nó đã chứng minh đã đạt được thành công đến nỗi thúc đẩy thêm một nghiên cứu mới để chọn ra một triệu tấm ảnh rõ nét và chi tiết nhất. Những người làm việc cho dự án này có tên gọi đơn giản là Herbaria@home đã kiểm tra những tấm hình được ghi chú bằng tay về những cây cối cổ thụ được lưu giữ trong trong những bảo tàng của người Anh. Điều này cho phép họ dò theo những thay đổi của việc phân bố các loài vật theo sự thay đổi của khí hậu

Một ứng dụng mới nữa của Web được sử dụng như một phòng thí nghiệm. Nó cho phép các nhà khoa học xã hội nói riêng để thực hiện những điều mà trước đây dường như không thể. Trong một sự án, các nhà khoa học đã có những quan sát về kích thước của các liên kết xã hội được sử dụng qua Facebook. Trong cuộc điều tra thứ hai về những mạng lưới như vậy, đã được tạo ra bởi Bernardo Huberman từ các phòng thì nghiệm HP, nghiên cứu của Hewlet-Packard có trụ sở đặt tại Palo Alto, tiểu bang California, cũng trông như Twitter, một mạng xã hội cho phép mọi người đăng những tin nhắn ngắn tới danh sách những người bạn trên đó.

Trong cái nhìn đầu tiên, những mạng lưới như vậy trong có vẻ rất đồ sộ với 300.000 người sử dụng Twitter (trong thời điểm đó) ước tính mỗi người có khoảng 80 bạn bè và với Facebook thì trung bình mỗi người có khoảng 120 bạn bè. Nhưng có những danh sách bạn bè lên tới 1000 người. Kiểm tra thông tin chi tiết hơn, khảo sát cho thấy phần lớn tin nhắn hướng đến một vài người cụ thể. Điều này còn cho thấy những hoạt động cá nhân trên mạng xã hội còn thấp hơn nhiều so với tương tác của họ trong cộng đồng thực tế của mình.

Tiến sĩ Huberman đã giúp những rất nhiều điều luật chưa thông qua về sử dụng Web, bao gồm cả thời gian (số lần) trung bình mà mỗi người dành ra để sử dụng Web để xem qua nhiều trang web trước khi rời khỏi (máy tính), và chi tiết hơn có thể thấy hiện tượng 'người thắng thì sẽ thắng tất cả' khi mà có một số trang web thu hút phần lớn người dùng trong khi đó những trang khác thì có rất ít người sử dụng.

Những nhà khoa học thì giỏi trong việc sử dụng Web để tiến hành các nghiên cứu. Tuy nhiên, họ có vẻ vẫn còn chưa sử dụng hiệu quả các trang mạng xã hội để làm công cụ mở rộng cho những trao đổi mang tính khoa học và khuyến khích sự hợp tác hiệu quả hơn.

Những nhà báo ngày nay đã biết sử dụng mãng xã hội để những bài báo của họ có nhiều bình luận từ đọc giả. Thật vậy, nhiều bloggers đã dần phát triển và hoàn thiện các bài luận của họ để cũng đạt được những bình luận như vậy. Nhưng mặc dù mọi người đã cố gắng để có những đánh giá khoa học theo cách tương tự nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu vẫn chỉ chấp nhận những bình luận từ số ít các chuyên gia mà họ không biết tới (nặc danh trên mang xã hội). Khi từ báo khoa học Nature, một trong những trang đăng và đánh giá các bài báo khoa học lớn nhất thế giới, được kiểm chứng với một đánh giá mở rộng vào năm 2006, và kết quả cho thấy thật đáng thất vọng.

Chỉ 5% những tác giả cho rằng họ được đồng ý cho đăng bài bởi tờ báo này trên trang Web này- và dự liệu của họ đã đúng khi mà hầu hết một nửa trong số bài của họ không có bình luận. Michael Nielsen, một chuyên gia về máy tính lượng tử, là một nhà khoa học trong làn sóng mới về các nhà blogger khoa học muốn tạo ra sự thay đổi. Anh ấy nghĩ lý do dẫn đến việc thiếu các bình phẩm và do lượng đọc tiềm năng không được khích lệ

 

Dịch bởi: cephan

bài viết đặc sắc trong tháng 05/2017

CEP Education giúp học sinh giỏi tiếng Anh ngay từ cấp tiểu học

Trung tâm Anh ngữ CEP viết nội dung này để nhắn gửi đến các bạn đang là cha mẹ và cả các em học sinh một lộ trình học tiếng Anh hiệu quả và giúp các em có thể giỏi…

Có thể bạn quan tâm

Tin cùng chuyên mục