Colour-blindness

Myths related to the causes and symptoms of “colour-blindness" abound throughout the world. The term itself is misleading, since it is extremely rare for anyone to have a complete lack of colour perception. By looking into the myths related to colorblindness, one can learn many facts about the structure and genetics of the human eye. It is a myth that colour-blind people see the world as if it were a black and white movie.

There are very few cases of complete colour-blindness. Those who have a complete lack of colour perception are referred to as mono-chromatics, and usually have a serious problem with their overall vision as well as an inability to see colours. The fact is that in most cases of colour-blindness. There are only certain shades that a person cannot distinguish between. These people are said to be dichromatic.

They may not be able to tell the difference between red and green, or orange and yellow. A person with normal color vision has what is called trichromatic vision. The difference between the three levels of colour perception have to do with the cones in the human eye. A normal human eye has three cones located inside the retina: the red cone, the green cone, and the yellow cone. Each cone contains a specific pigment whose function is to absorb the light of these colors and the combinations of them. People with trichromatic vision have all three cones in working order. When one of the three cones does not function properly, dichromatic vision occurs.

Some people believe that only men can be colour-blind. This is also a myth, though it is not completely untrue. In an average population, 8% of males exhibit some form of colour-blindness, while only 9.5% of women do. While there may be some truth to the idea that more men have trouble matching their clothing than women, the reason that colour vision deficiency is predominant in males has nothing to do with fashion.

The fact is that the gene for colour-blindness is located on the X chromosome, which men only have one of. Females have two X chromosomes, and if one carries the defective gene, the other one naturally compensates. Therefore, the only way for a female to inherit colour-blindness is for both of her X chromosomes to carry the defective gene. This is why the incidence of color deficiency is sometimes more prevalent in extremely small societies that have a limited gene pool.

It is true that all babies are born colourblind. A baby’s cones do not begin to differentiate between many different colours until the baby is approximately four months old. This is why many of the modern toys for very young babies consist of black and white patterns or primary colors, rather than traditional soft pastels. However, some current research points to the importance of developing an infant’s color visual system.

In 2004, Japanese researcher Yoichi Sugita of the Neuroscience Research Institute performed an experiment that would suggest that color vision deficiency isn't entirely genetic. In his experiment, he subjected a group of baby monkeys to monochromatic lighting for one year. He later compared their vision to normal monkeys who had experienced the colorful world outdoors. It was found that the test monkeys were unable to perform the color-matching tasks that the normal monkeys could. Nevertheless, most cases of colour-blindness. are attributed to genetic factors that are present at birth.

Part of the reason there are so many inconsistencies related to colour-blindness, or "colour-vision deficiency" as it is called in the medical world, is that it is difficult to know exactly which colors each human can see. Children are taught from a very young age that an apple is red. Naming colours allows children to associate a certain shade with a certain name, regardless of a colour vision deficiency. Someone who never takes a colour test can go through life thinking that what they see as red is called green.

Children are generally tested for colour-blindness at about four years of age. The Ishihara Test is the most common, though it is highly criticised because it requires that children have the ability to recognize’ numerals in the Ishihara Test. a number made up of coloured dots is hidden inside a series of dots of a different shade. Those with normal vision can distinguish the number from the background, while those with colour vision deficiency will only see the dots.

While many of the myths related to colorblindness have been disproved by modern science, there are still a few remaining beliefs that require more research in order to be labelled as folklore. For example, there is a longstanding belief that colorblindness can aid military soldiers because it gives them the ability to see through camouflage. Another belief is that everyone becomes colorblind in an emergency situation. The basis of this idea is that a catastrophic event can overwhelm the brain, causing it to utilize only those receptors needed to perform vital tasks. In general, identifying color is not considered an essential task in a life or death situation.

Source: nottingham.ac.uk

 

Sự mù màu

Có rất nhiều thuật ngữ liên quan đến các nguyên nhân và triệu chứng của "mù màu" trên toàn thế giới. Bản thân chính thuật ngữ này đã dễ gây hiểu nhầm, vì nó rất hiếm gặp đối với bất cứ ai thiếu nhận thức hoàn chỉnh về màu sắc. Bằng cách nhìn vào các giả thuyết liên quan đến mù màu, người ta có thể học được nhiều điều về cấu trúc và di truyền của mắt người. Một giả thuyết về cách mà người mù màu nhìn thế giới như thể đó là một bộ phim đen trắng.

Có rất ít trường hợp mù màu hoàn toàn. Những người hoàn toàn không nhận biết được màu sắc, được xem là những người mù màu, và thường gặp vấn đề nghiêm trọng với tầm nhìn bao quát cũng như không có khả năng nhìn thấy màu sắc. Thực tế là trong hầu hết các trường hợp mù màu, người ta chỉ không phân biệt được giữa một vài sắc thái của màu. Trường hợp này được gọi là khuyết sắc.

Họ có thể không nói ra được sự khác biệt giữa màu đỏ và màu xanh lá cây, hoặc cam và màu vàng. Một người có tầm nhìn màu bình thường có cái được gọi là tầm nhìn ba màu. Sự khác biệt giữa ba mức độ nhận thức màu sắc liên quan đến các dạng tế bào hình nón trong mắt người. Mắt một người bình thường có ba dạng tế bào hình nón nằm bên trong võng mạc: hình nón màu đỏ, hình nón xanh, và nón màu vàng. Mỗi hình nón chứa một sắc tố cụ thể có chức năng hấp thụ ánh sáng của những màu sắc và sự kết hợp của chúng. Những người có tầm nhìn ba màu có tất cả ba dạng tế bào hình nón hoạt động. Khi một trong ba dạng tế bào hình nón không hoạt động bình thường, sẽ xảy ra hiện tượng khuyết sắc.

Một số người cho rằng chỉ có nam giới mới có thể bị mù màu. Đây cũng là một giả thuyết, mặc dù nó không phải hoàn toàn sai sự thật. Trong một quần thể trung bình, 8% nam giới biểu hiện mắc một số dạng mù màu, trong khi chỉ có 9,5% phụ nữ bị như vậy. Mặc dù có thể có một số trường hợp thực tế cho thấy rằng nhiều đàn ông gặp khó khăn trong việc kết hợp quần áo của họ hơn phụ nữ, lý do khiến sự thiếu hụt màu sắc chiếm ưu thế ở nam giới không liên quan gì đến thời trang.

Thực tế là gen gây mù màu nằm trên nhiễm sắc thể X, mà nam giới chỉ có một trong số đó. Nữ giới có hai nhiễm sắc thể X, và nếu một trong những nhiễm sác thể này mang gen khiếm khuyết, nhiễm sắc thể còn lại sẽ tự động bù đắp. Vì vậy, cách duy nhất khiến phụ nữ mắc bệnh mù màu là cả hai nhiễm sắc thể X đều mang gen khiếm khuyết. Đó là lý do tại sao tỷ lệ khuyết sắc đôi khi phổ biến hơn ở các xã hội siêu nhỏ có nguồn gen giới hạn.

Đúng là tất cả trẻ em khi mới sinh đều mù màu. Tế bào hình nón của em bé không phân biệt được giữa nhiều màu sắc khác nhau cho đến khi em bé được khoảng bốn tháng tuổi. Đó là lý do tại sao nhiều đồ chơi hiện đại dành cho trẻ sơ sinh có các mẫu màu đen, trắng hoặc các màu cơ bản, chứ không phải là các loại màu nhạt truyền thống. Tuy nhiên, hiện tại, một số nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của việc phát triển hệ thống màu sắc của trẻ sơ sinh.

Năm 2004, nhà nghiên cứu Nhật Bản Yoichi Sugita của Viện nghiên cứu thần kinh học đã thực hiện một thí nghiệm cho thấy rằng sự thiếu hụt tầm nhìn màu sắc không phải hoàn toàn do di truyền. Trong thí nghiệm của mình, ông đã để một nhóm những con khỉ nhìn ánh sáng đơn sắc trong một năm. Sau đó, ông so sánh thị lực của chúng với con khỉ bình thường được trải nghiệm thế giới đầy màu sắc ngoài trời. Người ta phát hiện ra rằng những con khỉ thử nghiệm đã không thể thực hiện các việc kết hợp màu mà con khỉ bình thường có thể. Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp mù màu là do các yếu tố di truyền có mặt khi sinh ra.

Một phần của lý do có nhiều sự mâu thuẫn liên quan đến mù màu, hoặc "sự thiếu sáng màu" (cách gọi trong giới y khoa), là do rất khó khăn để biết chính xác những màu sắc mà mỗi người có thể nhìn thấy. Trẻ em được dạy từ khi còn rất nhỏ rằng quả táo thì màu đỏ. Đặt tên màu sắc cho phép trẻ kết hợp một sắc thái nhất định với một cái tên nhất định, không liên quan đến sự thiếu hụt màu sắc. Một người nào đó không bao giờ làm một bài kiểm tra màu sắc trong suốt cuộc đời sẽ nghĩ rằng cái họ thấy là màu đỏ được gọi là màu xanh lá cây.

Trẻ em thường được kiểm tra về mù màu vào lúc khoảng bốn tuổi. Kiểm tra Ishihara là phổ biến nhất, mặc dù nó bị phê bình rất nhiều vì nó đòi hỏi rằng trẻ em có khả năng nhận ra 'số trong Kiểm tra Ishihara. Một số được tạo thành từ các chấm màu được ẩn bên trong một loạt các chấm của một màu khác. Những người có thị lực bình thường có thể phân biệt số lượng các chấm màu, trong khi những người bị thiếu hụt màu sắc sẽ chỉ nhìn thấy các dấu chấm.

Mặc dù nhiều giả thuyết liên quan đến chứng mù màu đã bị khoa học hiện đại bác bỏ, vẫn còn một vài điều cần nghiên cứu nhiều hơn để được xác định chỉ là chuyện dân gian truyền miệng. Ví dụ, từ lâu rồi người ta tin rằng mù màu có thể hỗ trợ binh lính vì giúp họ có khả năng nhìn xuyên qua lớp ngụy trang. Một giả thuyết khác là mọi người sẽ trở nên mù màu nếu gặp trường hợp khẩn cấp. Cơ sở cho ý tưởng này là một sự kiện thảm khốc có thể áp đảo bộ não, làm cho não chỉ sử dụng những thụ quan cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quan trọng. Nói chung, việc xác định màu sắc không phải là một nhiệm vụ thiết yếu trong tình huống sống hoặc chết.

 

Dịch bởi: Phamkhanhlinh1008

Sự mù màu

Có rất nhiều thuật ngữ liên quan đến các nguyên nhân và triệu chứng của "mù màu" trên toàn thế giới. Bản thân chính thuật ngữ này đã dễ gây hiểu nhầm, vì nó rất hiếm gặp đối với bất cứ ai thiếu nhận thức hoàn chỉnh về màu sắc. Bằng cách nhìn vào các huyền thoại liên quan đến mù màu, người ta có thể học được nhiều điều về cấu trúc và di truyền của mắt người. Một huyền thoại về cách mà người mù màu nhìn thế giới như thể đó là một bộ phim đen trắng.

Có rất ít trường hợp mù màu hoàn toàn. Những người hoàn toàn không nhận biết được màu sắc, được xem là những người mù màu, và thường gặp vấn đề nghiêm trọng với tầm nhìn bao quát cũng như không có khả năng nhìn thấy màu sắc. Thực tế là trong hầu hết các trường hợp mù màu, người ta chỉ không phân biệt được giữa một vài sắc thái của màu. Trường hợp này được gọi là khuyết sắc.

Họ có thể không nói ra được sự khác biệt giữa màu đỏ và màu xanh lá cây, hoặc cam và màu vàng. Một người có tầm nhìn màu bình thường có cái được gọi là tầm nhìn ba màu. Sự khác biệt giữa ba mức độ nhận thức màu sắc liên quan đến các dạng tế bào hình nón trong mắt người. Mắt một người bình thường có ba dạng tế bào hình nón nằm bên trong võng mạc: hình nón màu đỏ, hình nón xanh, và nón màu vàng. Mỗi hình nón chứa một sắc tố cụ thể có chức năng hấp thụ ánh sáng của những màu sắc và sự kết hợp của chúng. Những người có tầm nhìn ba màu có tất cả ba dạng tế bào hình nón hoạt động. Khi một trong ba dạng tế bào hình nón không hoạt động bình thường, sẽ xảy ra hiện tượng khuyết sắc.

Một số người cho rằng chỉ có nam giới mới có thể bị mù màu. Đây cũng là một giả thuyết, mặc dù nó không phải hoàn toàn sai sự thật. Trong một quần thể trung bình, 8% nam giới biểu hiện mắc một số dạng mù màu, trong khi chỉ có 9,5% phụ nữ bị như vậy. Mặc dù có thể có một số trường hợp thực tế cho thấy rằng nhiều đàn ông gặp khó khăn trong việc kết hợp quần áo của họ hơn phụ nữ, lý do khiến sự thiếu hụt màu sắc chiếm ưu thế ở nam giới không liên quan gì đến thời trang.

Thực tế là gen gây mù màu nằm trên nhiễm sắc thể X, mà nam giới chỉ có một trong số đó. Nữ giới có hai nhiễm sắc thể X, và nếu một trong những nhiễm sác thể này mang gen khiếm khuyết, nhiễm sắc thể còn lại sẽ tự động bù đắp. Vì vậy, cách duy nhất khiến phụ nữ mắc bệnh mù màu là cả hai nhiễm sắc thể X đều mang gen khiếm khuyết. Đó là lý do tại sao tỷ lệ khuyết sắc đôi khi phổ biến hơn ở các xã hội siêu nhỏ có nguồn gen giới hạn.

Đúng là tất cả trẻ em khi mới sinh đều mù màu. Tế bào hình nón của em bé không phân biệt được giữa nhiều màu sắc khác nhau cho đến khi em bé được khoảng bốn tháng tuổi. Đó là lý do tại sao nhiều đồ chơi hiện đại dành cho trẻ sơ sinh có các mẫu màu đen, trắng hoặc các màu cơ bản, chứ không phải là các loại màu nhạt truyền thống. Tuy nhiên, hiện tại, một số nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của việc phát triển hệ thống màu sắc của trẻ sơ sinh.

Năm 2004, nhà nghiên cứu Nhật Bản Yoichi Sugita của Viện nghiên cứu thần kinh học đã thực hiện một thí nghiệm cho thấy rằng sự thiếu hụt tầm nhìn màu sắc không phải hoàn toàn do di truyền. Trong thí nghiệm của mình, ông đã để một nhóm những con khỉ nhìn ánh sáng đơn sắc trong một năm. Sau đó, ông so sánh thị lực của chúng với con khỉ bình thường được trải nghiệm thế giới đầy màu sắc ngoài trời. Người ta phát hiện ra rằng những con khỉ thử nghiệm đã không thể thực hiện các việc kết hợp màu mà con khỉ bình thường có thể. Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp mù màu là do các yếu tố di truyền có mặt khi sinh ra.

Một phần của lý do có nhiều sự mâu thuẫn liên quan đến mù màu, hoặc "sự thiếu sáng màu" (cách gọi trong giới y khoa), là do rất khó khăn để biết chính xác những màu sắc mà mỗi người có thể nhìn thấy. Trẻ em được dạy từ khi còn rất nhỏ rằng quả táo thì màu đỏ. Đặt tên màu sắc cho phép trẻ kết hợp một sắc thái nhất định với một cái tên nhất định, không liên quan đến sự thiếu hụt màu sắc. Một người nào đó không bao giờ làm một bài kiểm tra màu sắc trong suốt cuộc đời sẽ nghĩ rằng cái họ thấy là màu đỏ được gọi là màu xanh lá cây.

Trẻ em thường được kiểm tra về mù màu vào lúc khoảng bốn tuổi. Kiểm tra Ishihara là phổ biến nhất, mặc dù nó bị phê bình rất nhiều vì nó đòi hỏi rằng trẻ em có khả năng nhận ra 'số trong Kiểm tra Ishihara. Một số được tạo thành từ các chấm màu được ẩn bên trong một loạt các chấm của một màu khác. Những người có thị lực bình thường có thể phân biệt số lượng các chấm màu, trong khi những người bị thiếu hụt màu sắc sẽ chỉ nhìn thấy các dấu chấm.

Mặc dù nhiều giả thuyết liên quan đến chứng mù màu đã bị khoa học hiện đại bác bỏ, vẫn còn một vài điều cần nghiên cứu nhiều hơn để được xác định chỉ là chuyện dân gian truyền miệng. Ví dụ, từ lâu rồi người ta tin rằng mù màu có thể hỗ trợ binh lính vì giúp họ có khả năng nhìn xuyên qua lớp ngụy trang. Một giả thuyết khác là mọi người sẽ trở nên mù màu nếu gặp trường hợp khẩn cấp. Cơ sở cho ý tưởng này là một sự kiện thảm khốc có thể áp đảo bộ não, làm cho não chỉ sử dụng những thụ quan cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quan trọng. Nói chung, việc xác định màu sắc không phải là một nhiệm vụ thiết yếu trong tình huống sống hoặc chết.